“Nếu như ngày hôm nay cánh cửa thứ một trăm đã mở ra cho anh, thì cũng nhờ vào chín mươi chín cánh cửa kia đã khép lại với anh cho đến ngày hôm qua.” (Thiền sư Đạo Nguyên)


Chủ nhật, ngày 22 tháng mười một năm 2009

HỘI ĐỒNG TRỊ SỰ GHPGVN PHÊ DUYỆT ĐƠN BẢO LÃNH TĂNG THÂN BÁT NHÃ CỦA HAI VỊ VIỆN CHỦ TU VIỆN TOÀN GIÁC (ĐỒNG NAI) VÀ THIỀN VIỆN VẠN HẠNH (LÂM ĐỒNG)



Ngày 9/11/2009 HĐTS GHPGVN đã ký hai công văn quyết định cho Thượng tọa Thích Minh Nghĩa - Viện chủ Tu viện Toàn Giác tỉnh Đồng Nai và Thượng tọa Thích Viên Thanh - Viện chủ Thiền viện Vạn Hạnh thành phố Đà Lạt tỉnh Lâm Đồng được bảo lãnh cho 192 tu sinh Bát Nhã về một trong hai nơi kể trên để được tiếp tục tu học theo pháp môn Làng Mai.
Hai vị Thượng tọa Viện chủ đều đã cam kết với Chính quyền các cấp và Trung ương GHPGVN rằng sẽ: "hoàn toàn chịu trách nhiệm về việc đăng ký tạm trú theo đúng quy định của pháp luật, và hướng dẫn tu sinh tu học theo đúng Hiến chương, Nội quy Ban Tăng Sự Trung Ương, và Quy chế Ban Trị Sư tỉnh, thành hội Phật Giáo".



Thứ sáu, ngày 20 tháng mười một năm 2009

BẢO VỆ LÃNH THỔ BẰNG CHÍNH SÁCH ‘NHU VIỄN’



Điểm hay nhất của vương triều Lý, tuy là chế độ quân chủ tập quyền, nhưng lại quản lý đất nước, cai trị dân bằng phương thức mềm mỏng, với quan điểm rất cởi mở. Chính sách của nhà Lý với dân là chính sách "thân dân" rất thiết thực - GS Phan Huy Lê.
Dựa vào dân giữ yên bờ cõi
Nhiều người đã ca ngợi quyết định định đô tại Thăng Long của Lý Thái Tổ - vị vua sáng lập ra vương triều Lý đã mở ra kỷ nguyên mới cho lịch sử Việt Nam. Ngoài quyết định lịch sử này, GS có thể tổng kết những công lao lớn của vương triều Lý trong tiến trình lịch sử dân tộc, trước thềm kỷ niệm 1000 năm Thăng Long?
GS Phan Huy Lê: - Các vương triều Ngô, rồi Đinh - Tiền Lê đã có công giành lại và gây dựng nền độc lập, bước đầu xác lập chính quyền trung ương. Sứ mạng của triều Lý là xây dựng vương quốc giàu mạnh, mở ra kỷ nguyên phát triển văn minh thực sự cho đất nước. Việc định đô tại Thăng Long là công lớn đầu tiên, chọn đúng vị thế và xây dựng cơ sở vững chãi để trở thành "nơi thượng đô kinh sư muôn đời" như chính vua Lý Thái Tổ viết trong Chiếu dời đô.
Công lớn thứ hai của nhà Lý là xây dựng một quốc gia độc lập với một nhà nước quân chủ tập quyền cao hơn, đủ khả năng quản lý lãnh thổ đất nước và bảo vệ chủ quyền quốc gia. Thời Ngô-Đinh-Tiền Lê, miền núi rừng còn do các thủ lĩnh nắm quyền chi phối. Nhà Lý đặc biệt quan tâm đến miền núi rừng biên cương phía bắc, lúc đó giáp với nước Nam Chiếu- Đại Lý và nước Tống. Nhà Lý áp dụng chính sách "nhu viễn" rất thành công. Một mặt kiên quyết đàn áp những cuộc nổi dậy mang tính cát cứ, mặt khác ra sức phủ dụ với nhiều giải pháp mềm mỏng như phong chức tước, gả công chúa, biến các thủ lĩnh miền núi thành những người mang danh nghĩa triều đình để quản lý, bảo vệ vùng biên cương, tuy rằng trên thực tế, họ vẫn giữ quyền cai quản vùng đất cư trú của các tộc thiểu số.
Nhiều tù trưởng đã trở thành phò mã của nhà vua, trong đó nổi bật có dòng họ Thân ở vùng Lạng Giang ba đời liên tục là phò mã của nhà Lý, từ Thân Thừa Quý, Thân Thiệu Thái đến Thân Cảnh Phúc và rất trung thành với nhà Lý. Gần đây, tại Bắc Giang đã tìm thấy di tích một số cung điện của các phò mã-công chúa với những viên gạch mang niên hiệu và phong cách trang trí thời Lý. Chính các thủ lĩnh/tù trưởng này nắm quyền cai quản các sách, động vùng biên cương, đã phát huy vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp bảo vệ vùng biên giới.
Trong kháng chiến chống Tống, các đạo quân do Tôn Đản, Thân Cảnh Phúc, Lưu Kỷ, Vi Thủ An, Hoàng Kim Mãn chỉ huy đều là các tù trưởng miền núi và quân lính là lực lượng vũ trang của dân chúng gọi là "quân thượng du" mà sử Tống chép là họ kéo cả nhà đi chiến đấu. Trong các tù trưởng này, Thân Cảnh Phúc là người chiến đấu ngoan cường nhất, thật xứng đáng là một Anh hùng, cần được đặt tên đường phố tại Hà Nội.
Nhờ thế, cả vùng biên giới phía Bắc giáp với Nam Chiếu-Đại Lý và nhà Tống được đặt dưới quyền quản lý thực sự của nhà Lý. Trước đây, các thủ lĩnh vùng núi rừng này là các thế lực cát cứ rất mạnh, khi theo bên này, khi theo bên kia. Cương giới phía bắc đến thời nhà Lý đã thực sự được đưa vào lãnh thổ quốc gia dưới quyền quản lý của vương triều Lý. Đấy là một cống hiến và thành công lớn của nhà Lý trong việc xác lập, quản lý lãnh thổ và trên sở đó, đã đánh thắng quân xâm lược Tống, bảo vệ độc lập, lãnh thổ, chủ quyền quốc gia.
Một số học giả nước ngoài không coi chế độ nhà Lý là quân chủ tập quyền, nước Đại Việt là một quốc gia thống nhất, cho rằng nhà Lý chỉ mới quản lý được vùng đồng bằng và phần nào vùng trung du. Ở đây có quan niệm khác nhau về chế độ quân chủ tập quyền, quốc gia thống nhất và nhận thức về đặc điểm cụ thể của lịch sử Việt Nam. Việt Nam nói chung cũng như nước Đại Việt thời Lý, là một quốc gia đa tộc người (thường gọi là đa dân tộc) nên quá trình thống nhất quốc gia-dân tộc thực hiện trong quá trình lâu dài với những phương thức và giải pháp phù hợp với từng thời kỳ lịch sử.
Nhà Lý đã chia nước thành các đơn vị lộ, phủ, châu..., kể cả miền núi. Nhưng miền núi là địa bàn sinh tụ của các tộc thiểu số mà thời Lý, các tù trưởng tồn tại như các thủ lĩnh địa phương có thế lực mạnh và ảnh hưởng lớn trong vùng. Trong bối cảnh đó, quản lý miền núi thông qua các tù trưởng với chức châu mục của triều đình, đặt dưới quyền kiểm soát của nhà nước trung ương là phương sách phù hợp và có hiệu quả nhất, vừa bảo đảm được quyền lực quản lý, bảo vệ lãnh thổ quốc gia, vừa giữ gìn được sự đoàn kết dân tộc.
Chính sách thân dân và hạt nhân dân chủ làng xã
Vậy GS đánh giá nhà Lý khi so sánh với các triều đại phong kiến rất hưng thịnh sau đó (như nhà Trần, nhà Lê) như thế nào?
GS Phan Huy Lê: - Tất nhiên, mỗi vương triều đều có vai trò lịch sử, đều có lúc thịnh lúc suy, nên trước hết, chúng ta cần trân trọng sự cống hiến tích cực của các vương triều trong tiến trình lịch sử Việt Nam. Trong thời chế độ quân chủ thì triều Lý, triều Trần, triều Lê sơ là những vương triều mà thời thịnh đạt là những đỉnh phát triển cao của đất nước, tiêu biểu cho sự cường thịnh của một quốc gia độc lập, đạt tới trình độ văn minh cao của thời đó. Nhưng riêng tôi, tôi có ấn tượng sâu sắc, có thể nói là rất thú vị về chế độ của vương triều Lý.
Điểm hay nhất của vương triều Lý, tuy là chế độ quân chủ tập quyền, nhưng lại quản lý đất nước, cai trị nhân dân bằng phương thức mềm mỏng, với quan điểm rất cởi mở. Chính sách của nhà Lý với dân là chính sách "thân dân" rất thiết thực. Người dân sống trong các hương, thôn, thực chất là các công xã nông thôn, và nhà Lý rất coi trọng quyền tự quản của các thôn làng. Họ chỉ phải làm nghĩa vụ thần dân với nhà nước qua tô thuế, lao dịch, quân dịch..., người dân sống trong các cộng đồng mang tính tự trị rộng lớn với quyền quản lý và phân chia ruộng đất công theo tục lệ, với những tín ngưỡng, lễ hội dân gian phong phú, trong đó ngôi chùa giữ vai trò quan trọng trong đời sống văn hóa, tâm linh.
Thời Lý Thái Tổ, lập cung Long Đức ở ngoài Hoàng thành cho Thái tử ở để có điều kiện gần dân, thấu hiểu đời sống của dân. Đó là cách chuẩn bị làm vua thật đặc sắc của nhà Lý. Trong Cấm thành Thăng Long lại đặt Lầu chuông, người dân khi có việc oan ức có thể vào đánh chuông để kêu lên triều đình. Có những lễ hội như hội đèn Quảng Chiếu được tổ chức trong Hoàng thành, thậm chí trong Cấm Thành; hội thề cũng có lúc tổ chức ở Long Trì (Sân Rồng), mở rộng cửa cho dân chúng vào dự.


Vương triều Lý cũng rất chăm sóc phát triển nông nghiệp, đắp đê, làm thủy lợi, cày tịch điền (là lễ nghi nông nghiệp có từ thời Lê Hoàn, bày tỏ sự tôn trọng của nhà vua với nền kinh tế nông nghiệp). Tuy coi trọng nông nghiệp nhưng nhà Lý cũng quan tâm đến sự phát triển thủ công nghiệp và thương nghiệp chứ không chủ trương "ức thương" như một số triều đại sau này. Chính sách mậu dịch đối ngoại rất cởi mở, nhà Lý cho mở chợ biên giới dọc theo biên giới phía Bắc với nhà Tống, dọc theo bờ biển thì thành lập cảng Vân Đồn, nằm trên con đường hàng hải quốc tế, là một trung tâm mậu dịch đối ngoại rất quan trọng.  Đặc biệt, với đời sống văn hóa, tôn giáo tín ngưỡng, thái độ của nhà Lý rất bao dung cởi mở.
Các hệ tư tưởng chung sống hoà bình
Phải chăng vì nhà Lý gắn bó mật thiết với Phật giáo, thiền sư Vạn Hạnh chính là người có công mở ra vương triều Lý, sau này là cố vấn của triều đình, nên đây chính là giai đoạn đạo Phật phát triển toàn thịnh nhất?
GS Phan Huy Lê: - Đúng là triều Lý ngay từ khi thành lập, đã gắn bó mật thiết với Phật giáo, nhưng nói chung chung như vậy chưa đủ. Thời nhà Lý là thời cực thịnh của Phật giáo ở Việt Nam, là bệ đỡ tinh thần của vương triều. Từ nhà vua, quý tộc, quan lại đến dân chúng đều tôn sùng đạo Phật, chùa tháp được xây dựng nhiều nơi, số người theo đạo Phật rất đông. Nhưng điều đáng lưu ý là vào thời Lý, đồng thời tồn tại và phát triển, thậm chí dung hợp cả phái Thiền tông với phái Mật tông và Tịnh độ tông. Ba giáo phái chủ yếu này có sự khác biệt trong giáo lý và hành lễ, nhưng thời Lý đều được coi trọng, dù Thiền tông là chủ yếu.
Nhà Lý còn thành lập phái Thảo Đường do một nhà sư từ Champa ra Thăng Long sáng lập, được phong làm Quốc sư, và vua Lý Thánh Tông là thế hệ thứ nhất. Phật giáo thời Lý rất đa dạng, nhiều giáo phái tồn tại, không có xung đột tôn giáo. Phật giáo thời Lý mang đậm tính dân tộc, tính nhập thế, đi sâu vào cuộc sống, được nhân dân rất mến mộ, giữ vai trò chi phối trong đời sống văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng. Một số nhà sư được phong làm Quốc sư, làm cố vấn cho nhà vua.


Bên cạnh Phật giáo, triều đình nhà Lý cũng tôn trọng Nho giáo. Chính nhà Lý đã lập ra Văn miếu, mở Quốc tử giám, tổ chức những khoa thi đầu tiên, tuy mới mở được 6 khoa thi. Phật giáo mang tinh thần nhân ái, là bệ đỡ tinh thần quan trọng để nhà Lý đi vào dân chúng, nhưng để xây dựng thiết chế quân chủ tập quyền thì Nho giáo ưu thế hơn, nên nhà Lý bắt đầu coi trọng Nho giáo, kết hợp chặt chẽ Nho giáo và Phật giáo. Cả Đạo giáo và các tín ngưỡng dân gian đều được nhà Lý ứng xử với thái độ rất cởi mở, bao dung. Nhà Lý chủ trương Tam giáo đồng nguyên. Tất cả các tôn giáo, tín ngưỡng đều tồn tại chung, có nhiều chỗ hội nhập với nhau trong đời sống tín ngưỡng của người dân, dù đây thường là lĩnh vực tâm linh có khía cạnh phức tạp, dễ xảy ra bất đồng và xung đột nhất.
Phục hưng văn hoá Việt
Về nghệ thuật kiến trúc, thời Lý cũng "nổi bật" so với triều Trần, triều Lê phải không, thưa GS?
GS Phan Huy Lê: - Về kiến trúc, thời Lý xây dựng nhiều công trình bề thế, phần lớn là kiến trúc cung đình và kiến trúc tôn giáo.
Về kiến trúc cung đình, di tích khảo cổ học ở khu Hoàng thành Thăng Long gồm nhiều lớp, thuộc nhiều giai đoạn Đại La, Lý, Trần, Lê... nhưng theo kết quả nghiên cứu của giới khảo cổ học thì lớp di tích Lý phong phú nhất, nhiều kiến trúc cung điện lớn, qui mô bề thế, nghệ thuật tạo hình độc đáo.
Ngoài ra còn có các chùa tháp lớn như chùa Phật Tích, chùa Đọi, tháp Chương Sơn, tháp Tường Long... là những chùa tháp lớn thời Lý. Rất tiếc là trong phạm vi Thăng Long cũng có rất nhiều chùa tháp lớn, trong đó nổi bật nhất là tháp Báo Thiên, nhưng nay hoàn toàn không còn dấu tích. Chùa Một Cột là một kiến trúc độc đáo, thời Lý cũng bề thế, nhưng đã nhiều lần tu sửa và ngôi chùa Một Cột hiện còn mới được xây dựng lại năm 1955.
Có thể khẳng định, nghệ thuật kiến trúc phát triển trên nền tảng kinh tế phát đạt, đời sống nhân dân ổn định, tôn giáo phát triển nên nhiều kiến trúc có quy mô lớn, bề thế, nghệ thuật tạo dáng rất đẹp, nghệ thuật trang trí tinh tế, như rồng thời Lý rất mềm mại, uyển chuyển, trau chuốt, chú ý đến từng chi tiết nhỏ. Kiến trúc cung đình tập trung ở kinh thành, kiến trúc tôn giáo, nhất là chùa tháp, rải rác khắp mọi vùng. Tiếc là di tích trên mặt đất không còn gì nguyên vẹn, nhưng dấu tích khảo cổ học và số lượng di vật khổng lồ mà khảo cổ hoc đã phát hiện tại Hoàng thành Thăng Long và một số chùa tháp như Phật tích, Chương Sơn, Tường Long...cũng đủ cho ta hình dung.
Trải qua thời kỳ dài của 1000 năm Bắc thuộc, vương triều Lý đã "khẳng định chủ quyền" trong đời sống văn hóa, đời sống xã hội ra sao, thưa GS?
GS Phan Huy Lê: - Giới sử học coi đây là thời kỳ mở đầu công cuộc phục hưng văn hóa dân tộc, sau khi trải qua hơn nghìn năm Bắc thuộc, di sản văn hóa mai một, dân tộc ta đứng trước nguy cơ bị đồng hóa. Công cuộc phục hưng văn hóa thời Lý, một mặt trở về cội nguồn của thời đại dựng nước trước Bắc thuộc, mặt khác sáng tạo và nâng cao bằng sức lao động và trí tuệ của dân tộc, bằng mở rộng giao lưu để tiếp nhận và dung hóa nhiều giá trị tư tưởng, văn hóa của các nền văn hóa-văn minh phương Đông.
Ảnh hưởng của văn hóa bên ngoài biểu thị rất rõ trên nhiều phương diện như Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo, như nghệ thuật tạo hình và âm nhạc Champa, như chữ Hán, nghề khắc mộc bản từ Trung Quốc... Có thể nói, trên cơ sở tiếp nối cội rễ sâu xa và nền tảng vững chắc bên trong, nhà Lý rất cởi mở tiếp thu những ảnh hưởng văn minh xung quanh, làm phong phú, đa dạng nền văn hóa đất nước nhưng vẫn giữ gìn bản sắc dân tộc. Đó là một thành công lớn trong sự nghiệp phục hưng văn hóa thời Lý.
Có thể tóm tắt về những điểm mạnh của vương triều Lý: dù là chế độ quân chủ tập quyền nhưng với miền núi thì thi hành chính sách "nhu viễn", với nhân dân thì "thân dân", với văn hóa thì có thái độ rất cởi mở, dung hợp tất cả luồng văn hóa khác nhau, tạo nên cuộc sống phong phú, đa dạng, hài hòa.
Bài học hay của nhà Lý là tôn trọng...
Vậy ở thời đại hôm nay, sau 1000 năm, chúng ta có thể học được gì từ vương triều Lý, thưa GS?
GS Phan Huy Lê: - Lẽ đương nhiên, mỗi thời mỗi khác, không thể học tập y nguyên bất kỳ điều gì từ quá khứ, nhưng lịch sử để lại cho chúng ta một di sản vô giá mà từ đó chúng ta có thể rút ra những bài học rất có ý nghĩa trong cuộc sống ngày nay. Theo tôi, đây là vài bài học đáng lưu ý:
Thứ nhất, Việt Nam là một quốc gia đa tộc người, hiện nay ta có 54 dân tộc. Một nhà nước mạnh, một quốc gia hùng cường trong đặc điểm đa tộc người ở Việt Nam là phải rất coi trong chính sách và cách ứng xử với các dân tộc thiểu số miền núi. Nước ta không phải là nước lớn, càng không phải là đế chế, nên không thể xây dựng một quốc gia tập quyền và thống nhất theo chế độ "chuyên chế, cực trị", dùng quyền lực mạnh của trung ương để áp đặt và đàn áp các dân tộc thiểu số (dĩ nhiên trừ trường hợp phản loạn, cát cứ). Bài học hay của nhà Lý là tôn trọng các dân tộc miền núi, tôn trọng văn hóa, phong tục tập quan của từng dân tộc, tập hợp họ lại trong một quốc gia thống nhất bằng chính sách mềm mỏng phù hợp với bối cảnh lúc đó, được họ chấp thuận. Nhà Lý đã thực hiện thành công chính sách đoàn kết dân tộc, nên thời bình thì giữ được an ninh vùng biên cương, khi có giặc ngoại xâm thì toàn dân tham gia kháng chiến, và các thủ lĩnh miền núi giữ vai trò cực kỳ quan trọng.
Ta cũng có thể học cách ứng xử của nhà Lý với các tôn giáo khác nhau. Dưới thời Lý, đời sống văn hóa tín ngưỡng phong phú, đa dạng với sự chung sống, cùng tồn tại đan xen của nhiều tôn giáo, tín ngưỡng, không có sự áp đặt, không có xung đột, tạo nên đời sống cởi mở, hài hòa trên một tinh thần dân tộc rất cao.


Kinh nghiệm lớn nhất của nhà Lý và cả lịch sử nước ta là muốn độc lập tự cường thì nhà nước và quân đội giữ vai trò cực kỳ quan trọng, nhưng chưa đủ. Sức mạnh trường tồn của đất nước, nhất là khi đứng trước mối đe dọa hay nguy cơ xâm lược của nước ngoài, sức mạnh tiềm tàng, vô tận của Việt Nam là sức mạnh của khối đoàn kết dân tộc, sức mạnh của trí tuệ, sức mạnh toàn dân thấm nhuần sâu sắc chủ nghĩa yêu nước và các giá trị văn hóa dân tộc. Điều đó không chỉ thể hiện bằng lời kêu gọi chung chung mà phải bằng những chính sách cụ thể tạo nên sự thuận hòa của xã hội, đời sống ổn định cho toàn dân. Thời thịnh Lý, nước Đại Việt đã trở thành một quốc gia văn minh và cường thịnh theo hướng đó với những đặc điểm của bối cảnh chế độ quân chủ lúc bấy giờ.
 Xin cảm ơn GS.
Khánh Linh (thực hiện)

Thứ tư, ngày 18 tháng mười một năm 2009

Một tiếp cận có vẻ khả tín hơn: Số lượng Phật tử trên Thế giới không phải là 500 triệu mà từ 1,2 đến 1,6 tỉ người



Thedhamma.com / Trí Tánh ĐHT dịch

Số lượng Phật tử trên thế giới đã từng bị lượng định quá thấp. Những thống kê mà ta đọc được trong các Từ điển Bách khoa hoặc trong các Bảng Niên giám thường ghi con số nầy vào khoảng 500 triệu người. Con số nầy đã không kể đến hơn một tỉ người Trung Quốc hiện đang sống tại nước Cọng hòa Nhân dân Trung Quốc. Trung Quốc chính thức là một nước Cọng sản (dầu nhiều điều kiện của một nền kinh tế tự do đã hình thành) và họ không lưu giữ những con số thống kê các tín đồ tôn giáo. Cũng vậy, nhiều nguồn thông tin của các nước phương Tây không thừa nhận rằng một người có thể theo nhiều hơn một tôn giáo. Tại châu Á, tình trạng một người theo hai, ba, hay thậm chí nhiều tôn giáo là điều bình thường. Tại Trung Quốc, trong nhà có bàn thờ với hình tượng và biểu tượng của Lão giáo, Khổng giáo và Phật giáo chung nhau cũng là chuyện bình thường trong một gia đình.
Số Phật tử tại Trung Quốc: Hiện nay [2009], có khoảng 1,3 tỉ người Trung Quốc sống tại nước Cọng hòa Nhân dân. Những điều tra (như Gach-Alpha Books, Phúc trình của Bộ Ngoại giao Mỹ về Trung Quốc, Trung tâm Quốc tế Nghiên cứu Trung Quốc Hiện đại, Thông tấn BBC News, tạp chí China Daily, và một phúc trình của những nhà Truyền giáo Tin Lành tại Trung Quốc) đã phát hiện ra rằng có khoảng từ 8% đến 91% người Trung Quốc xác nhận rằng Phật giáo là một trong những tôn giáo của họ. Nếu chúng ta dùng con số gần với số bách phân cực đại của những điều tra nầy, nghĩa là lấy 80%, thì cũng đã là khoảng 1,1 tỉ Phật tử Trung Quốc. Không lý đến hơn một tỉ người là một sai lầm ghê gớm và lạc dẫn trong nỗ lực đo đếm số lượng tín đồ Phật giáo. Một Diễn đàn Phật tử Trung Quốc (bskk.com) mà thôi đã có khoảng 60.000 hội viên đăng ký và có hơn 2 triệu người tham dự. Con số nầy thì gấp đôi con số của một diễn đàn Phật giáo lớn nhất bằng Anh ngữ (mà trong đó có cả Phật tử Trung Quốc tham gia cuộc thảo luận). Nhưng để cho sòng phẳng, ta [sẽ không chỉ lấy bách phân 80%, mà sẽ] dùng thêm một ước lượng bảo thủ hơn (xin xem bảng bên dưới).

 Dưới đây là một vài nghiên cứu đã phân tích và định lượng số Phật tử tại Trung Quốc và Bách phân của nó [khi so với tổng dân số nước nầy]:
- Phúc trình của Bộ Ngơại giao Mỹ: Khoảng 8% đến 40% (Phúc trình ghi 8%, nhưng ghi chú thêm    rằng có  cả  “hàng trăm triệu” người Trung Quốc theo nhiều tôn giáo cùng một lần, kể cả Phật giáo).
- BBC News, 2007: Khoảng 16% đến 23%.
- ChinaDaily.com, 2007: Khoảng 16% đến 21%.
- Seanetwork.org, bài viết của Tiến sĩ A. Smith, 2004: Khoảng 50% đế 80%.
- Trung tâm Quốc tế Nghiên cứu Trung Quốc Hiện đại: Khoảng 23% đến 98% (Phúc trình ghi 23% nhưng ghi chú thêm rằng có 98% người Trung Quốc theo nhiều hơn một tôn giáo, trong đó có Phật giáo).
- Băng tần Buddhist Channel, bài viết “Phật giáo phát triển mạnh tại Trung Quốc” ngày 7-7-2009.
- Gach, Nhà Xuất bản Alpha Books: Khoảng 91%.

Số Phật tử tại Mỹ: Xác định số Phật tử tại Mỹ cũng có vấn đề vì Văn phòng Thống kế Dân số Hoa Kỳ (US Census Bureau) không hỏi dân Mỹ theo tôn giáo nào. Nhiều công trình nghiên cứu cho rằng bách phân Phật tử khi thì khá thấp, vào khoảng 0,5%, khi thì khá cao, vào khoảng 3%. Vài nghiên cứu với kết quả bách phân thấp khẳng định rằng một nữa số Phật tử Mỹ nầy thuộc dân da trắng, nguồn gốc Âu châu. Điều nầy chứng tỏ rằng những nghiên cứu đó có thể sai lầm. Ai đã từng tiến hành điều tra tình hình Phật giáo tại Mỹ bằng cách thực tế đến các Tự viện và Thiền đường thì đều thấy rằng đa số Phật tử đều chủ yếu là người Á châu hoặc có gốc Á châu. Luồng di dân từ Á châu đến Mỹ thì rất cao nhờ các cơ hội kinh tế và nhờ chính sách nhập cư cởi mở của Mỹ cho những người có kỹ năng như trong khu vực Y khoa. Số lượng di dân từ châu Á đến Mỹ là trong khoảng từ 0,5 triệu đến 7 triệu mỗi năm, và chắc rằng một số lượng lớn những người di dân nầy là Phật tử

[Một lý do khác khiến cho] các điều tra có số bách phân thấp là vì họ căn cứ vào những phúc trình thống kê của  một Tổ chức Phật giáo mà thôi. Tổ chức đó có tên là “Những Giáo hội Phật giáo của Mỹ”, BCA: Buddhist Churches of America, (vốn là một trong hiếm hoi những tổ chức chịu thổng kê số hội viên của mình). [Nhưng] BCA chỉ là một nhánh trong Tịnh Độ tông, vốn chỉ là một tông phái  trong hệ thống Đại Thừa, vốn cũng chỉ là một thừa trong toàn bộ Phật giáo. Cách đây gần 15 năm, vào năm 1995, một công trình nghiên cứu đã xác định rằng 1,6% dân Mỹ là Phật tử. Chỉ vài năm sau đó, số Phật tử tăng lên gấp đôi; điều nầy cho phép ta ước lượng một con số bách phân là từ 2% đến 4% (xem R. Baumann, Đại học Hannover).  Giáo sư Tiến sĩ C. Prebish đã xác nhận rằng 2% dân số Mỹ là Phật tử, và đa số những Phật tử Mỹ đó (80%) có nguồn gốc Á Châu, nghĩa là 4,8 triệu trên 6 triệu (xem Đại học Tiểu bang Utah, 2007). Trong Bảng Tổng kết ở dưới, chúng tôi sẽ dùng bách phân 2% bảo thủ nầy cho số Phật tử tại Mỹ.

Cập nhật vào tháng Ba năm 2007: Nhờ những cuộc tranh luận [để xác định số lượng Phật tử trên thế giới] , cuối cùng, vài Nguồn tài liệu và Bách khoa Từ điển đã thừa nhận có Phật tử tại Trung Quốc. Những tài liệu nầy cho rằng cuộc điều tra nào xác định 91% thì quá lố, nhưng vài nguồn tài liệu cũng đã ghi một bách phân đáng kể, như Wikipedia chẳng hạn, ghi trên 60%. Vì vậy, cho Bảng Tổng kết bên dưới, chúng tôi sẽ dùng bách phân “lạc quan”  80% và bách phân “bi quan” 50% [cho số Phật tử tại Trung Quốc].

Cập nhật vào tháng Bảy năm 2009:  Bách phân số Phật tử tại Ấn Độ đã gia tăng đáng kể trong những năm gần đây nhờ có nhiều buổi quy y tập thể của giai cấp Cùng đinh (Dalit), đổi đạo từ Ấn Độ giáo sang Phật giáo. (Xin xem Lễ Đổi đạo 50.000 người và Tài liệu của tạp chí Newsweek, 3/2008, với tựa đề “Ngày nay, 3,25% Phật tử tại Ấn Độ”).



Ngoài ra, xin xem thêm bài viết “Sự quyến rũ của Phật giáo” (The Appeal of Buddhism) trong tạp chí The Dhamma Encyclopedia để có thêm dữ liệu thống kê, các trang Web Phật giáo và các nguồn tài liệu khác.

Bảng Tổng Kết: Dưới đây là bảng Tổng kết tương đối chính xác hơn, ghi chú số lượng Phật tử trên toàn thế giới [7/2009] sau khi đã thêm vào những dữ liệu ở trên. (Bách phân số Phật tử trên tổng dân số quốc gia / vùng / châu lục được ghi trong ngoặc đơn):
                        
Quốc gia / Vùng / Châu lục
Số Phật tử
(Bách phân)
Trung Quốc (ước lượng “lạc quan”)
1.070.893.447
(80.00%)
Trung Quốc (ước lượng “bi quan”)
669.308.405
(50.00%)
Nhật Bản
122.022.837
(96.00%)
Thái Lan
62.626.649
(95.00%)
Ấn Độ
37.913.134
(3.25%)
Tích Lan
14.933.050
(70.00%)
Những nước Á châu khác
280.209.398
(21.00%)
Á CHÂU (ước lượng “lạc quan”)
1.588.598.515

Á CHÂU (ước lượng “bi quan”)
1.187.013.473

Hoa Kỳ
6.135.071
(2.00%)
Canada và các Quốc gia đảo Bắc Mỹ
368.447
(1.10%)
BẮC MỸ
6.503.518

Đức Quốc
905.657
(1.10%)
Pháp Quốc
773.215
(1.20%)
Anh Quốc
733.394
(1.20%)
Những nước Âu châu khác
785.700
(0.15%)
ÂU CHÂU
3.197.966

CHÂU MỸ LATINH & NAM MỸ
868.929
(0.15%)
ÚC CHÂU VÀ ÚC ĐẠI LỢI
618.752
(1.80%)
PHI CHÂU
194.550
(0.02%)



TOÀN THẾ GIỚI (ước lượng “lạc quan”)
1.599.982.230
Khoảng 1.6 tỉ
TOÀN THẾ GIỚI (ước lượng “bi quan”)
1.198.397.188
Khoảng 1.2 tỉ

(Xin xem thêm “Định nghĩa thế nào là một Phật tử” của Tiến sĩ David N. Snyder)

Kết luận: Như vậy, số lượng Phật tử hiện nay trên thế giới là khoảng từ 1.2 tỉ đến 1.6 tỉ. Số lượng nầy thì gần bằng số lượng tín đồ của hai tôn giáo lớn nhất thế giới là Hồi giáo và Thiên Chúa giáo [gồm Công giáo, Tin Lành, Anh giáo và Chính Thống giáo]. Ngay cả với số lượng “bi quan” (1.2 tỉ), con số nầy cũng cao hơn rất nhiều con số “300 đến 500 triệu” thường được ghi chú trong các tài liệu trích dẫn. Điều quan trọng khi biết được con số thực sự là để viết sử cho chính xác, và để biết rằng chúng ta không “cô đơn” khi chúng ta tư duy và hành xử.  Điều chúng ta phấn đấu không phải là có thêm nhiều Phật tử mà là có thêm nhiều “Phật đà” (kẻ thức tỉnh) hầu nội tâm chúng ta cũng như nhân loại được bình an.

Trí Tánh ĐHT dịch




Buddhists around the world

The number of Buddhists around the world is grossly underestimated. The statistics found in nearly all encyclopedias and almanacs place the number of Buddhists at approximately 500 million. This figure completely ignores over one billion Chinese people who live in the People's Republic of China. China is officially communist (although many free market conditions are already in place) and does not keep records on religion statistics of adherents. Also, many western reference sources refuse to accept that a person can belong to more than one religion. In Asia it is quite common for one person to have two, three, or more religions. In China, it is common for a family to have a shrine in their home with statues and icons from Daoism, Confucianism, and Buddhism.

Currently there are about 1.3 billion Chinese living in the People's Republic. Surveys (Gach-Alpha Books, U.S. State Dept. report on China, Global Center for the Study of Contemporary China, BBC News, China Daily, and a report by Christian missionaries in China) have found that about 8% to 91% identify with Buddhism as one of their religions. If we use a percent near the upper end of this estimate, of about 80% it works out to about 1.1 billion Chinese Buddhists. To ignore over one billion people as if they do not count is a terrible mis-count and very misleading in the reporting of adherents. A Chinese Buddhist forum (bskk.com) currently has about 60,000 registered members and over 2 million posts, which is about double the amount of the largest English language Buddhist forum (which also has Chinese Buddhists participating in the discussions). But to be fair, a more conservative estimate is also shown (see below).

 
Here are some studies that have analyzed or counted the number of Buddhists in China and the percentage found in the study:


U.S. State Dept. report   Approx. 8% to 40% (the report lists 8% but then states that there are "hundreds of millions" of Chinese who practice various religions together, which includes Buddhism).
BBC News, 2007   Approx. 16% to 23%

ChinaDaily.com, 2007   Approx. 16% to 21%

Seanetwork.org article by Dr. A. Smith, 2004   Approx. 50% to 80%

Global Center for the Study of Contemporary China   Approx. 23% to 98% (the report lists 23% but states that as many as 98% follow more than one religion, which includes Buddhism).

Buddhist Channel article, July 7, 2009   Buddhism thrives in China

Gach, Alpha Books, 2001   Approx. 91%


The counting of Buddhists in America is also a little problematic since the U.S. Census Bureau does not ask religious affiliation. There are studies that suggest the percentage of Buddhists in America is as low as 0.5% and others that suggest over 3%. Some of the lower estimates claimed that about half of all Buddhists in America are white, European ancestry, which shows that the study was flawed. Any personal observation survey of Buddhism in America by attending meditation groups and temples will demonstrate that the vast majority of Buddhists in the U.S. are still predominantly Asian or Asian ancestry. Immigration to the U.S. from Asia has been very high due to favorable economic opportunities and more open immigration for those with technical skills, such as in the medical fields. Immigration from Asia ranges from about 0.5 million to 7 million per year and certainly a sizeable percentage of these immigrants are Buddhist.

 See: Asian immigration to U.S.

Some other reports at the low end are going by official statistics from Buddhist organizations that count and in many of these estimates it is based on counting only one group, The Buddhist Churches of America (which is one of the few that counts their members). The BCA is just one sect inside the Pure Land school of Buddhism, which is a further sub-set of Mahayana, which is a sub-set of Buddhism in general. As far back as 1995 a study showed that 1.6% of the U.S. is Buddhist. Only a few years later the number of Buddhist centers doubled, which suggests that the actual percent of Americans who are Buddhist is from 2% to 4%. See: R. Baumann, Univ. of Hannover Professor C. Prebish, Ph.D. has stated that 2% of the U.S. population is Buddhist and that most, about 80% of American Buddhists are of Asian descent (about 4.8 million out of 6 million American Buddhists), See: Utah State Univ., 2007
A conservative estimate of 2% is used for the number of Buddhists in America in the table below.

March 2007 update: Due to the debates and discussions that have occured, some reference books and encyclopedias are finally recognizing that there are Buddhists in China. Some have stated that the survey suggesting that 91% are Buddhist is exaggerated, but at least some are now showing a sizeable percentage, such as over 60% over at wikipedia. Therefore, included below is a liberal estimate using 80% and a more conservative estimate using a 50% figure.

Here is the Wikipedia estimate, which is compatible to the numbers shown here: Wikipedia List of religious populations

July 2009 update: The percentage and numbers for Buddhists in India has increased dramatically over recent years because there have many recent mass conversions of the dalit (untouchables) from Hinduism to Buddhism. See: One of several mass conversions of over 50,000
and also this report: Newsweek, March 2008 India now 3.25% Buddhist

 See also this article at The Dhamma encyclopedia for more statistics, links and sources: The appeal of Buddhism

The following is the more accurate listing of Buddhists around the world with the inclusion of the above-mentioned people (percentage of the total population who are Buddhist is shown in parentheses):

China, liberal estimate (80.00%)
1,070,893,447
China, conservative estimate (50.00%)
669,308,405
Japan (96.00%)
122,022,837
Thailand (95.00%)
62,626,649
India (3.25%)
37,913,134
Sri Lanka (70.00%)
14,933,050
Other Asian countries (21.00%)
280,209,398
Total Buddhists in Asia, liberal estimate
1,588,598,515
Total Buddhists in Asia, conservative estimate
1,187,013,473


USA (2.00%)
6,135,071
Canada and N. Amer. islands (1.10%)
368,447
Total Buddhists in N. America
6,503,518


Germany (1.10%)
905,657
France (1.20%)
773,215
United Kingdom (1.20%)
733,395
Other European countries (0.15%)
785,700
Total Buddhists in Europe
3,197,966


Total Buddhists in Latin America and S. America (0.15%)
868,929


Total Buddhists in Australia and Oceania (1.80%)
618,752


Total Buddhists in Africa (0.02%)
194,550
_______________________________________________________
Total Buddhists in the world, liberal estimate
1,599,982,230
(about 1.6 billion)
Total Buddhists in the world, conservative estimate
1,198,397,187
(about 1.2 billion)

last updated: July 2009

See also Definition of a Buddhist by David N. Snyder, Ph.D.

The current number of Buddhists is therefore, about 1.2 to 1.6 billion which places it nearly equal with each of the two largest religions of Christianity and Islam. Even with the conservative estimate, it is still much higher than the 300 to 500 million still being placed in many references. It is important to know the true number to provide an accurate history and to know that we are not “alone” in our thinking and our practice. What we really strive for is not more Buddhists, but more “buddhas” (enlightened ones) so that we can have true peace inside and for the world.



Thứ ba, ngày 10 tháng mười một năm 2009

BÀI THƠ TRÊN NÚI



Câu chuyện chiến tranh mà tôi sắp kể ra đây xảy ra trên một đỉnh núi cao của dãy Hy-mã-lạp-sơn cách đây hơn một phần tư thế kỷ. Phe tôi và phe địch chạm trán nhau trên một quảng núi mà biên giới cũng vô định như mây trên trời. 

Chúng tôi năm người đi tuần lúc mờ sáng, hai bên nổ súng, địch đông hơn, chúng tôi tháo lui. Ý định của chúng tôi là dụ địch vào sâu, tiêu diệt.

Chúng tôi vờn nhau như vậy trong lúc trời vần vũ, gió thổi mạnh. Một lúc sau bảo tuyết cuồng nộ nổi lên, tuyết mù mịt, không còn biết đâu là phương hướng. Chúng tôi lạc nhau, mỗi người gió thổi cuốn đi một ngả. Tôi bám vào núi mà đi một hồi đầu óc xoay vù, không còn biết mình đi đâu. Bão càng lúc càng dữ dội, tôi mệt ngấc, bước không nổi nữa, ôm núi, trốn gió, tuyết quấc như roi vào mặt. Gió thổi như muốn bậc núi. Lạnh xuống dữ dội. Lạnh tưởng chừng như cả người tôi hóa đá. Tôi ôm núi như vậy suốt ngày và suốt ngày cứ nghĩ là buông rã tay ra, bay như hạt bụi.

Đến chiều tuyết hơi ngớt gió bớt mạnh. Tôi lần mò bò quanh núi tìm một khúc đá để nương thân. Bò mãi, đến khi kiệt sức, bổng cái gì như một mái nhà hiện ra trước mắt tôi, lờ mờ trong tuyết. Không! Một ngôi chùa! Một ngôi chùa dựng lưng vào núi. Mệt lả người, tôi lăn ra nằm trên nền chùa, đầu như quay trong gió lốc, thân thể cứng đờ như đã ướp lạnh, giác quan tê liệt, mắt chẳng thấy gì ngoài một màn trắng mênh mông. Tôi nằm mê man như vậy không biết đến bao lâu, khi tỉnh dậy thì trời đã chợt tối.

Lúc đó tôi mới bắt đầu run, run vì lạnh, vì đói, vì mệt và chắc cũng vì sốt, vì tôi có cảm tưởng rằng tôi đang sốt. Tôi nhìn chung quanh. Chùa nhỏ như chỉ một người tu, trống trơn, không một bức tường. Không bàn thờ, không chuông mõ, không chỗ ngã lưng. Chỉ thấy lù ngù trong góc vách một bóng ai đang ngồi. Tôi giật mình nhìn kỹ, và ớn lạnh xương sống khi thấy người kia đang chỉa súng vào tôi. Cùng lúc mắt đã quen với bóng tối, tôi nhận ra binh phục của anh ta, và biết rằng mình đang đối mặt với kẻ thù. Tôi ngồi đờ ra như vậy nhìn người trước mặt. Anh ta vẫn hờm súng trong thế đe dọa nhìn tôi. Qua giây phút kinh hãi lúc đầu, tôi dần dần bình tĩnh, nhận xét tình thế. Có thể là tôi lạc biên giới, rơi vào một vị trí do địch canh gác. Cũng có thể là chính anh ta lạc biên giới, rơi vào đất của tôi. Mà cũng có thể chẳng ai lạc vào biên giới của ai, cả hai đều bị bão tuyết thổi tốc vào ngôi chùa hoang này. Tôi thì chắc chắn đang ở trong thế yếu vì đang ngồi trước họng súng của người kia. Nhưng chắc gì anh ta đã ở trong thế mạnh hoàn toàn, biết đâu anh ta chẳng hoang mang, ngỡ mình rơi vào đất hiểm! Trong tư thế hờm súng của anh ta, tôi nhận thấy một cử chỉ phòng thủ, không phải tấn công và nghĩ đó làm tôi vẫn dạ. Dẫu sao, anh ta và tôi vẫn đang có một kẻ thù chung: Đêm lạnh băng, và nếu không đuổi được kẻ thù đó, cả hai có thể chết cóng trong đêm. Sống khác nhau, cả hai có thể chết giống nhau.

Tôi lấy lại được niềm tin. Cẩn thận, canh chừng, tỉnh táo, tôi đứng dậy, đi từng bước, tìm những thứ gì có thể đốt lên một bếp lửa. May quá, tôi tìm được một tấm ván mục, một cái gáo dừa, một đôi dép nát, một gốc cây to và cả một con dao để bửa củi. Trong lúc tôi lần mò tìm kiếm, họng súng vẫn không rời tôi.

Tôi chẻ ván, chất củi, loay hoay dựng một bếp lửa. Dựng xong, tôi mới sực nhớ rằng tôi đã để cái bật lửa trong hành trang của tôi, và tất cả hành trang, kể cả súng, tôi đã đánh rơi trong bão tuyết. Sự thất vọng mang cơn sốt trả về cho tôi. Hai tay tôi run, đầu óc choáng váng. Bất ngờ, người kia móc túi, ném cho tôi một bao diêm nhỏ, trong tay kia vẫn gờm súng. Tôi lượm bao diêm liếc nhìn anh ta, chờ đợi một động tĩnh, nhưng tuyệt nhiên không có gì khác họng súng vẫn đe dọa.

Tôi tìm cách mồi lửa, nhưng khó quá không có một mảnh giấy, một cọng rơm. Tôi chẻ củi ra từng cọng nhỏ, bật diêm, nhưng tay tôi run quá, củi không đủ khô, diêm tắt. Tôi thử lần thứ hai, củi vẫn không bén lửa. Lần thư ba tay tôi run hơn, thất bại. Nghe tiếng người kia cựa mình, tôi nhìn qua, thấy anh ta loay hoay móc túi, rút ra một mảnh giấy ném cho tôi. Giấy không bay đến gần tôi, tôi phải mom men đến gần anh ta hơn để lượm. Họng súng theo dõi tôi, tôi cầm mảnh giấy, mở ra, chữ là lạ, nhưng chắc chắn là một bài thơ, tôi còn biết là một bài thơ chưa làm xong, bởi vì đoạn cuối còn thiếu một câu. Tôi liếc nhìn người kia như để nói với anh ta rằng tôi biết đó là bài thơ, và biết anh ta là thi sĩ. Nhưng trước mắt tôi họng súng vẫn đe dọa. Tôi chăm lửa, và lần này cây diêm không cháy! Tôi moi bao diêm: chỉ còn độc một cây! Tính mạng của tôi tùy thuộc vào cây diêm độc nhất còn lại. Lạnh xuống càng lúc càng khủng khiếp, và cơn sốt làm tôi run toàn thân.

Hai bàn tay run, tôi toan bật cây diêm cuối cùng, thì vụt như chớp người kia nhảy đến bên cạnh tôi, nắm tay tôi, giật bao diêm. Bị phản ứng bất ngờ, tôi hoảng hốt, không kịp suy tính gì nữa, vớ lấy cây dao, hoa lên. Vừa lúc đó, mắt tôi bỗng thấy cả một vùng trăng sáng hiện ra từ bao giờ ngoài khung cửa. Bão lặng lúc nào tôi không hay. Tuyết hết rơi trăng sáng vằng vặc. Trăng trên núi cao gần như lấy tay là vớ được, gần như mọc ngay trên mái chùa, gần như một khuôn mặt nhân hậu, gần như một nụ cười bao dung. Tự nhiên tối ngừng tay, đứng sững. Người kia bẻ quặt tay tôi, giật con dao ném xuống đất. Tôi đứng sững. Và tôi đứng sững nhìn anh ta bật que diêm, châm lửa vào bài thơ, lửa cháy!


Tôi có thể chấm dứt câu chuyện ở đây vì lửa cháy và tôi đã sống. Nhưng lửa đã cháy từ lúc nào? Dĩ nhiên từ lúc diêm bén lửa. Nhưng tôi vẫn thường suy nghĩ hoài về một ngọn lửa khác đã cháy lên trước đó và đó chính là cây diêm đầu tiên. Tại sao người kia không thí cho tôi một phát súng ngay khi tôi đột nhập vào chùa? Cái gì đã làm cho anh ta không bắn tôi trong suốt thời gian tôi ngất lịm trên nền đá? Cái gì đã khiến cho tôi chùn tôi lại khi con dao đã vung lên? Phải chăng đó là ánh trăng lóe hào quang trên con dao? Nhưng tại sao trong cái giây phút bức bách đó, mắt tôi còn nhận ra được vầng trăng tròn nhân hậu trên mái chùa, vầng trăng quen thuộc như khuôn mặt của mẹ tôi? Tôi cứ suy nghĩ hoài về những câu nói đó, thì phải chăng lửa đã có sẳn từ lâu, từ muôn thuở trong tim tôi,  trong tim của mọi người? Tôi muốn chấm dứt câu chuyện ở đây là vì thế: là vì tôi muốn động đến những vấn đề siêu hình làm tôi suy nghĩ suốt đời. Tôi muốn chấm dứt câu chuyện với sự thật đơn giản trước mắt: lửa đã cháy và sự sống đã đến với tôi từ trong lòng bàn tay của người mà tôi gọi là kẻ thù.

Thế nhưng…tôi sẽ kể tiếp để câu chuyện khỏi dang dở. Lửa cháy, lửa bùng lên, và hình như tôi có reo lên một tiếng sung sướng. Nhưng tiếng reo sung sướng chưa dứt thì tôi đã thét lên kinh ngạc: người kia bổng nằm quỵ bên bếp lửa. Tôi trố mắt nhận ra máu loang đỏ một vùng. Tôi bước tới, ôm anh trong tay, cởi áo, áo đẫm máu. Anh ta chết trong tay tôi. Tôi ôm anh ta trong tay như vậy, bất động, cho đến khi bếp lửa bắt đầu tàn. Và tôi suy nghĩ miên man. Như vậy là anh ta đã bị thương, đã may mắn tìm được chổ trú ẩn trong chùa, đã xé áo tự băng vết thương cho đỡ rướm máu…Nếu anh ta ngồi yên một chỗ, nếu anh ta không nhảy vụt đến cứu cây diêm cuối cùng đang run rẩy trong tay tôi, có thể vết thương đã thôi chảy máu chăng? Đã đành anh ta cũng cần bếp lửa để sống qua đêm nhưng dù sao đi nữa thì cũng có một người đã chết để một người được sống, và có bếp lửa không biết phân biệt kẻ thù. Tôi tần ngần moi túi áo  anh ta ra, không thấy có gì khác, chỉ có một bài thơ, chắc là bài thơ ban nãy, nhưng đã hoàn chỉnh vì không thiếu câu nào.

Sáng sớm hôm sau, tôi tìm về đơn vị và tiếp tục chiến đấu như một chiến sĩ. Tôi là chiến sĩ có huy chương cao nhất, trong các trận đánh sau đó. Nhưng ngay khi hết chiến tranh, tôi cởi áo giáp, một mình leo lên núi trong hai năm liền để xây lại ngôi chùa hoang. Tôi xây chùa không cốt để thờ Phật vì tôi biết Phật đã ở đâu trong tôi ngay từ đêm tôi sống trong chùa hoang. Tôi xây chùa để biết đâu, mười, hai mươi, một trăm năm nữa, sau một trận đánh nhau, hai kẻ thù bị thương, kiệt sức, có chổ trốn bão tuyết trong giây lát cứu nhau và cứu chết người trong nhau. Trong chùa tôi vẫn không đặt tượng và chuông mõ. Chỉ thờ có một bài vị đó là bài thơ của anh bạn đã chết trong tay tôi.

Bạn bè Việt Nam của tôi, có ai thảnh than lên chơi trên đỉnh biếc này, xin ghé qua thăm chùa và đọc bài thơ. Mà thôi có lẽ cũng chẳng cần phải đi xa: chính mắt tôi đã có lần nhìn thấy ông Nguyễn Trãi của bạn nhúng bút vào mây trên trời Đông Quan viết những câu thơ tương tự. Vâng, có lẽ chỉ cần nhìn lên mây trên trời Việt Nam, trên trời Việt Nam bốn nghìn năm văn hiến…

Cao Huy Thuần

TỪ CHỮ TÍN ĐẾN LÒNG TIN



Nếu giữ chữ tín là phẩm chất cao quý trong đời sống kinh doanh thì sự bội tín không chỉ làm tha hóa bản thân mà còn gây tác hại cho nhiều người. Thực tế xã hội không thiếu những vụ việc xem thường chữ tín dẫn đến hậu quả vô cùng to lớn.

LTS: Xưa nay, chữ tín luôn là phẩm chất cao quý trong đời sống xã hội. Từ thực tiễn cuộc sống, ông cha ta đúc rút rằng: có lòng tin là có tất cả, mất lòng tin thì có khi trắng tay vì chẳng mấy ai còn muốn đến với ta. Để có thể hiểu sâu sắc giá trị của chữ tín, mời quí vị độc giả đọc bài viết với tựa đề: Từ chữ tín đến lòng tin của nhà báo Trần Trọng Thức.

Trong suy nghĩ của người đời, tôn trọng chữ tín là nền tảng của một hành vi đạo đức được xã hội thừa nhận xưa nay. Trong làm ăn thì nền tảng ấy còn cần thiết hơn bởi khi bước chân vào con đường lắm chông gai này, ai mà chẳng cần đến một điểm tựa, đó là niềm tin của người khác.

Một doanh nhân thành đạt kể chuyện đời mình, rằng ngày anh 16 tuổi, nhà nghèo phải bỏ quê ra tỉnh kiếm sống. Bước đầu nhờ một người quen đứng ra bảo lãnh, anh đã được ông chủ vốn là một thương lái lớn sẵn sàng bán chịu một số hàng trị giá khá cao. Tự lượng sức, anh chỉ xin mua phân nửa số hàng và cố gắng thanh toán sớm hơn thời hạn để giữ được lời hứa với người đã giúp mình. Thấy anh làm ăn nghiêm túc, ông chủ quan tâm tìm hiểu, mới biết cha anh là người cùng quê được tiếng thanh bạch, từ đó ông sẵn lòng bán chịu cho anh lượng hàng gấp mười lần mà không đòi hỏi điều kiện gì. Nhờ vậy mà anh có cơ hội trở thành ông chủ nhỏ rồi lăn lộn trong thương trường nhiều năm và thành danh. Bài học làm ăn của anh bắt đầu bằng chữ tín.

Gia đình anh thuộc cộng đồng người Hoa tha phương cầu thực, do hoàn cảnh nơi đất khách quê người cần có nhau nên luôn đặt chữ tín lên hàng đầu trong quan hệ làm ăn, xem đó là đồng vốn lớn nhất. Trong cách nhìn của anh chữ tín có cái giá của nó, nếu bội tín một đồng thì ta mất nhiều hơn một đồng, nếu bội tín mà không biết dừng lại thì mất mát cả một chuỗi quan hệ, đó là sự mất mát cả về nhân cách lẫn tiền bạc.

Nếu giữ chữ tín là phẩm chất cao quý của trong đời sống kinh doanh thì sự bội tín không chỉ làm tha hóa bản thân mà còn gây tác hại cho nhiều người. Thực tế xã hội không thiếu những vụ việc xem thường chữ tín dẫn đến hậu quả vô cùng to lớn.

Khi chữ tín được xác lập chủ yếu qua việc chúng ta giữ lời hứa đối với người khác thì hệ quả của nó là lòng tin của người khác đặt để vào chúng ta. Hiểu như thế thì từ khi nền kinh tế chuyển đổi theo hướng thị trường, bên cạnh những điểm sáng, chúng ta cũng có nhiều lần phải trả giá vì để mất lòng tin, có khi do công cụ quản lý - cụ thể là luật pháp - chưa hoàn chỉnh, có khi do cách làm ăn chỉ nhìn thấy cái lợi trước mắt, bất chấp hậu quả lâu dài.

Chẳng hạn như điệp khúc "lời giả lỗ thật" từ hàng chục năm nay của phần lớn doanh nghiệp nhà nước có nguyên nhân sâu xa là từ những con số ảo nhảy múa trong các báo cáo tài chính. Vậy mà tình trạng không trung thực ấy đến nay vẫn tồn tại như một sự mặc nhiên của môi trường kinh doanh đã qua thời kỳ tranh tối tranh sáng. Lòng tin của xã hội vào doanh nghiệp nhà nước có bị lung lay thì cũng là điều dễ hiểu.

Hay như trong quá trình mở cửa, luật pháp không theo kịp với sự phát triển của thực tế cuộc sống đã khiến một số luật như Luật đất đai, Luật đầu tư phải bổ sung sửa đổi nhiều lần, đó là chưa kể sự bất nhất trong các qui định của từng địa phương đã khiến cho nhà đầu tư trong lẫn ngoài nước phải vất vả vừa chạy vừa sắp hàng.

Có thể nhìn thấy điều này qua vụ tranh cãi về khoản tiền phải nộp liên quan đến quyền sử dụng đất ở khu đô thị mới Phú Mỹ Hưng đang diễn ra mà cái khó dồn hết cho nhà nước, nhà đầu tư và cả người dân, có nguyên nhân là do giá đất thay đổi theo lý giải chủ quan của địa phương, coi nhẹ tập quán kinh doanh của thời kỳ hội nhập. Năm xưa hàng trăm hecta đất ở vùng đất sình lầy này là phần vốn 30% được đối tác trong nước góp vào liên doanh với nước ngoài, trị giá chưa đến vài đô la một mét vuông. Nay dưới tác động của các dự án đầu tư hạ tầng khiến giá đất tăng cao, những người đi trước tạo nên giá trị này bị thiệt thòi còn người "ăn theo" đi sau thì bỗng nhiên được hưởng lợi.

Người đi trước ở đây là nhà đầu tư đã được cấp quyền sử dụng đất cho dự án của Khu đô thị, là những người dân mua các căn hộ mà về nguyên tắc đã được chia sẻ quyền sử dụng đất hợp pháp từ nhà đầu tư. Bây giờ thì qua cuộc tranh cãi này bao nhiêu điều phức tạp được lý giải là do "tồn tại của lịch sử". Có đúng như vậy không hay lại là chuyện "bất nhất trước sau". Những câu chuyện như thế này thật sự làm lòng tin của nhà đầu tư bị xói mòn, điều này giải thích tại sao hơn 20 năm thu hút nguồn vốn lớn đầu tư nước ngoài mà chúng ta vẫn chưa tạo ra được một sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Đó là sự đánh mất cơ hội khi mà đường băng không phải là vô tận cho nền kinh tế của chúng ta cất cánh.

Lòng tin bắt nguồn từ một xã hội hướng đến cái thiện ở đó chữ tín - thuộc phạm trù đạo đức - phải trở thành kim chỉ nam trong các quan hệ ứng xử ở mọi lĩnh vực. Có lòng tin là có tất cả, mất lòng tin thì có khi trắng tay vì chẳng mấy ai còn muốn đến với ta.

Trần Trọng Thức
http://tuanvietnam.net/2009-11-08-tu-chu-tin-den-long-tin


Thứ hai, ngày 02 tháng mười một năm 2009

THƯ GỬI NHỮNG NGƯỜI BẠN


Sen Việt vừa nhận được thư của thầy Thích Thanh Thắng, cố vấn của Nhóm. Nhận thấy lá thư của thầy chứa nhiều tình cảm và góp ý thẳng thắn, có ích với việc làm của Sen Việt trong hiện tại cũng như sau này. Bằng thái độ cầu thị, Sen Việt xin đăng lá thư sau của thầy Thích Thanh Thắng như một lời xin lỗi chân thành đến quý vị độc giả, trong đó có Giáo sư Trần Chung Ngọc và trang nhà Sách Hiếm.
Thưa các bạn trong Nhóm Sen Việt, sáng nay (2/11) tôi thật buồn khi biết các bạn đã quá đà vào những tranh luận không cần thiết và cũng không đi đến đâu bằng những bài viết có tính trả đũa liên quan đến vụ Bát Nhã. Lúc đó, tôi nghĩ hay là mình đã hết vai trò cố vấn cho nhóm Sen Việt. Vì tôi đã có khuyên các bạn nên điều chỉnh ngôn từ trong tranh luận để không rơi vào cực đoan mà phản tác dụng. Người Phật tử thì càng không nên rơi vào cực đoan trước bất cứ vấn đề nào trong cuộc sống.
Cho đến lúc ngồi viết lá thư này, tôi nhận thấy tiếng nói cố vấn của mình đã phần nào có tác dụng, tôi nghĩ chắc không phải do tôi nói rằng tôi sẽ từ bỏ vai trò cố vấn để gây áp lực với các bạn mà tôi cho rằng các bạn đã hiểu được suy nghĩ và tình cảm của tôi. Tôi xin cảm ơn các bạn đã rút các bài tranh luận đó xuống một cách dũng cảm. Các bạn là những thanh niên, sinh viên có ý thức trăn trở với đạo pháp. Dù chúng ta có khoảng thời gian gắn bó với nhau, nhưng tôi cũng đã nói thẳng và rất chân thành với các bạn rằng, các bạn còn nông nổi, bồng bột và hiếu thắng. Các bạn cũng đã từng thừa nhận với tôi như thế. Nhưng tôi không chỉ biết nói điều này với các bạn thôi đâu mà chính bản thân tôi cũng vậy, không hơn gì các bạn, đôi lúc đã để cho cảm xúc xen vào giống như điều Giáo sư Trần Chung Ngọc đã nhắc nhở. Và có những điều tôi phải học lại từ các bạn.
Tôi cũng đã tâm sự thật với các bạn rằng chúng ta phải lên tiếng trước sự bạo hành và chúng ta hãy nắm lấy cái hiện tại và sự thực duy nhất đó để lên tiếng thôi, còn việc phải truy tìm nguyên nhân đúng – sai bây giờ không thuộc trách nhiệm của chúng ta. Bài viết của Giáo sư Trần Chung Ngọc phần nào cũng đã giống chúng ta ở một điểm là phê bình không thương tiếc những hành vi bạo hành đối với tu sinh.
Suy cho cùng Sen Việt hay bất cứ trang nhà nào khác cũng không phải là những người đóng vai “giải quyết” mà chỉ là “một tiếng nói khác”, “một cách nhìn khác” trước một vấn đề mà điểm nhìn đã có những khoảng cách nhất định.
Thưa các bạn, tôi không phải không có khả năng tổng hợp, trích dẫn để bôi đỏ, gạch chân các tư liệu đang công khai tràn ngập trên mạng, nhưng tôi nghĩ điều đó là không cần thiết, nếu chúng ta vẫn chưa thực sự hiểu bản chất của sự việc nó nằm ở chỗ nào. Bản thân tôi là một người đi thực tế vụ Bát Nhã, tiếp xúc với Thượng tọa Thích Thái Thuận, tôi hiểu được những tình cảm mà Tăng Ni, Phật tử tỉnh Lâm Đồng dành cho tu sinh Làng Mai. Chính vì cái đạo tình đó mà nó ám ảnh đến cách viết hay nhận định của tôi, và tôi xem đó là điểm mạnh đồng thời cũng là điểm yếu của chính mình.
Tôi có đọc được một email của một vị thân hữu khả kính, trong đó có đoạn “Đọc bài nào, của ai, về sự cố Bát Nhã cũng buồn, RẤT BUỒN. Tại sao không ai, nhất là Phật tử, nghĩ rằng trong vụ việc nầy không có đúng hay sai, mà chỉ có vết thương sâu hay cạn trên cùng một cơ thể ?! Tại sao không ai, nhất là Phật tử, lấy Tâm mà ứng xử thay vì lấy Trí mà đấu với nhau. Nhưng cuộc đời không "đẹp" như mình muốn phải không Thầy, nên cứ "vô tư" tiếp tục tạo nghiệp thôi!”.
Đọc xong những dòng này tôi thật sự xúc động. Và mấy hôm sau, tôi tiếp tục nhận được một tin nhắn do chính các bạn chuyển tới:
Kính gởi nhóm Sen Việt, Thầy Thích Thanh Thắng, Sách Hiếm và Đạo Hữu Trần Chung Ngọc.
Là một đọc giả thường xuyên của Sen Việt, Phật Tử VN, Giao Điểm và Sách Hiếm, tôi thường được đọc những bài viết vô cùng giá trị của qúy vị.  Tôi qúy mến tất cả qúy vị vì tấm lòng muốn gìn giữ đạo Phật, bảo vệ sự thật lịch sử, và phát huy văn hoá Việt trước những nền văn minh & đức tin bên ngoài đang ồ ạt vào tổ quốc Việt Nam.
Những người như quý vị thật  hiếm hoi, nếu không muốn nói đếm trên đầu ngón tay.  Mất đi một người như anh Lý Khôi Việt (dù nguyên nhân do bệnh tật) cũng là mất đi một cột trụ bảo vệ văn hoá cho quê hương.  Trong những ngày qua, đọc bài qua lại giữa đạo hữu Trần  Chung Ngọc, Sách Hiếm và Sen Việt, tôi không muốn thấy những viên ngọc hiếm hoi này vì tình hình Bát Nhã mà chúng ta không khéo quay qua cắn lẫn nhau để tự mình đi đến hủy hoại.  Lực lượng cực đoạn Cần Lao tại hải ngoại sẽ vô cùng vui mừng, bởi vị mục đích của họ dù chỉ là thiểu số nhưng vẫn luôn muốn Phật Giáo xé ra ngàn mảnh để dễ chi phối, thống trị sau này.   
Chuyện Bát Nhã như chúng ta biết là chuyện vô cùng phức tạp, tuy nhiên tôi thấy Sen Việt và đạo hữu Trần Chung Ngọc đều cùng chung quan điểm là hành vi trục xuất Tăng Thân Bát Nhã là việc làm đáng lên án. Tôi nghĩ qúy vị nên ngừng ở mẫu số chung này, còn vụ việc giải quyết Bát Nhã ra sao, quan điểm về Thiền Sư Nhất Hạnh như thế nào thì  xin coi như quan điểm riêng  xin đừng phê phán quá nặng nề, để rồi mất cảm tình lẫn nhau.  
Tôi xin qúy vị niệm tình ngưng ở đây, hoặc có bàn thảo xin email riêng cho nhau.  Lời qua tiếng lại, ai đúng ai sai có quan trọng lắm cho người đọc không?  Tôi mong qúy vị nhìn lại quá khứ của mỗi người đã từng đóng góp rất nhiều bài viết bảo vệ đạo pháp và dân tộc để thấy rằng  mình là những người bạn cùng chung một hướng dù có những suy nghĩ khác nhau trong thời điểm này”.
Đọc tin này, tôi thêm khâm phục những người Phật tử có tâm huyết, ngay sau đó tôi nghĩ nhiều hơn và tự trách rằng, đôi lúc mình đã nhìn sự việc một cách máy móc, chủ quan. Nhưng cũng lúc đó tôi nhận được thư chuyển tiếp tiếp theo của các bạn. Thư này các bạn viết cho Sách Hiếm, trong đó có đoạn:
“Sen Việt vừa nhận được thư của tác giả Huyền Lam, nhận thấy đây là một lá thư đầy ý nghĩa. Trong lúc này rất cần sự đoàn kết. Anh em Sen Việt của tôi cũng nhất trí sẽ rút lại toàn bộ bài viết về cuộc tranh luận với ông Trần Chung Ngọc, nếu Sách Hiếm cũng rút lại các bài viết trước đó của ông Trần Chung Ngọc về vụ Bát Nhã. Nếu Sách Hiếm có thể làm được điều này, anh em Sen Việt chúng tôi sẽ vô cùng cảm ơn và lúc nào cũng sẵn sàng đưa những lời xin lỗi chân thành đến ông Trần Chung Ngọc”.
Đọc những lời này tôi vui mừng cảm ơn các bạn, cảm ơn tất cả mọi người đã góp ý, đã biết dẹp bỏ cái Ngã của mình để sẵn sàng xin lỗi Giáo sư Trần Chung Ngọc. Tôi nghĩ đó là tự thắng lớn nhất của các bạn. Các bạn đã thực sự trưởng thành. Tôi nghĩ những lời xin lỗi của các bạn sẽ đến với Giáo sư Trần Chung Ngọc qua thư này của tôi, dù tôi biết những yêu cầu rút bài của người khác mà các bạn đưa ra là vô lý. Nhưng tôi được gián tiếp biết rằng Sách Hiếm cũng sẽ cho rút những ý kiến khác xuống. Các bạn phải nên xem đó là điều đáng mừng để các bên có thể lắng nghe và hiểu nhau nhiều hơn. Với góc nhìn cá nhân của Giáo sư Trần Chung Ngọc, trong chừng mực của sự góp ý và lắng nghe, chúng ta phải tôn trọng Giáo sư. Các bạn chơi blog, tôi nghĩ nhẽ ra các bạn cũng hiểu “tính chất cá nhân” nó mạnh như thế nào.
Giáo sư Trần Chung Ngọc có quyền nhận định về thiền sư Nhất Hạnh và tôi cũng có quyền nêu ý kiến với Giáo sư. Đối với cá nhân tôi, nếu có lời nào sơ suất với cá nhân Giáo sư Trần Chung Ngọc qua lá thư trước, tôi cũng nhân đây xin được Giáo sư lượng thứ. Tôi chỉ có thể tiếp nhận những ý kiến phản hồi của đích danh Giáo sư Trần Chung Ngọc. Và tôi xin tiếp nhận phản hồi đó bằng thái độ cảm ơn, trân trọng và ý thức tự điều chỉnh, nhưng tôi không có lý do gì phải trả lời những bút danh mà tôi không rõ khác.
Thưa các bạn, tôi muốn nói với các bạn rằng, các bạn nên biết Sen Việt có được như ngày hôm nay chính ở những niềm tin, lòng nhiệt tình và động cơ ban đầu trong sáng đó. Các bạn đã có những người bạn hữu rất tốt đó là Phattuvietnam, Sách Hiếm, Giao Điểm… Họ là cầu nối để tiếng nói của Sen Việt được lan rộng qua các vụ Toà khâm sứ, vụ Đặt tượng Alexandre de Rhodes và vụ Quy hoạch Hồ Gươm. Trong vụ việc Bát Nhã chúng ta cần có thêm những người bạn mới, chứ không phải vì bức xúc quá mà đánh mất những người bạn cũ, dù chúng ta biết những người bạn đó đều có những tôn chỉ và mục đích khác nhau. Các bạn nên ghi nhớ “bạn cũ là vàng”.
Tôi nghĩ các bạn không nên tiếp tục sa đà vào tranh luận nữa vì có một sự thực cho đến thời điểm này vẫn chưa có ai (trong và ngoài nước) đủ tự tin để nói rằng mình nắm được sự thật của vụ việc. Tôi cũng đã từng đề nghị các bạn nên đóng cửa blog trong một thời gian, nếu sau này có điều kiện thì nâng cấp thành website (tính chất cũng như blog). Tôi nghĩ ban đầu các bạn sẽ ngỡ ngàng với những đề nghị đường đột này của tôi, nhưng tôi cho rằng đó là điều cần thiết và sau này các bạn sẽ hiểu góp ý chân thành đó. Trong thư này tôi có điều gì nói quá lời cũng mong các bạn đừng để bụng.
Cảm ơn tất cả các bạn trong nhóm Sen Việt đã lắng nghe, cảm ơn tất cả những thư góp ý của bạn đọc, cảm ơn các thân hữu bên trang nhà Sách Hiếm đã cho tôi cơ hội viết ra những tâm sự này.
Xin kính chúc quý vị thân tâm thường an lạc.
Thích Thanh Thắng

TT. THÍCH THÁI THUẬN: “CÁC TĂNG NI BÁT NHÃ RA TẠM TRÚ Ở CHÙA PHƯỚC HUỆ TU TẬP RẤT NGHIÊM TÚC”




Nói về các tăng ni và người tập sự xuất gia ở tu viện Bát Nhã hiện tạm trú tại chùa Phước Huệ, Thượng tọa Thích Thái Thuận, Phó BTS PG tỉnh Lâm Đồng kiêm Trưởng ban Tăng sự, Chánh Đại diện Huyện hội PG Bảo Lộc, Trú trì chùa Phước Huệ, cho biết:
Là một người tu, nhìn thấy các cháu nhỏ bỏ những niềm vui, những theo đuổi khác thường tình của thế gian, quyết tâm rời xa gia đình và sự nuông chiều để khép mình vào kỷ luật nhà chùa mà tôi thấy xúc động. Trước tình cảnh mưa bão, trước sự bức ép phải ra đi mà không biết đi về đâu, tôi đã quyết định để các em được tạm trú tại chùa Phước Huệ từ tối 27/10/2009.
PV: Bạch Thượng tọa, hiện tạm trú tại đây có bao nhiêu vị?
Hơn 200 vị, nhưng vì lý do này lý do khác, một số vị đã ra đi. Hiện có 193 vị, trong đó đa số là các em xuất gia nhỏ tuổi, đa số từ 16 đến 30 tuổi.
Sinh hoạt hiện nay của các vị đó, theo Thượng tọa là như thế nào?
Tuy số lượng đông như thế, nhưng các em rất kỷ luật, tu hành rất nghiêm túc.
Thời khóa hàng ngày như thế nào, thưa Thượng tọa?
Khuya thức dậy, đồng loạt cả chúng ngồi thiền, sau đó dùng điểm tâm, chấp tác theo chúng, trưa ngọ trai, chỉ tịnh, chiều hành thiền và chấp tác, học tập, tối cùng tham dự thời tịnh độ thường kỳ của chùa, sau đó ngồi thiền và nghỉ. Tất cả tuân thủ nếp sống thiền môn quy củ.
Nhờ vậy, nên dù với hơn 200 người kể cả người thường trú tại chùa, mà vẫn giữ được yên tĩnh. Nếu không, với tuổi trẻ hiếu động làm sao mình chịu nổi (cười).
Chỗ ở và các cơ sở khác có đủ cho số lượng chừng đó không bạch Thượng tọa?
Nói đủ thì biết thế nào cho đủ (cười), tôi tận dụng tất cả không gian vừa mới tu sửa xong, kể cả nhà thờ linh để làm nơi nghỉ. Tất cả nằm trên nền nhà, chúng tôi cho mua thêm chiếu và chăn cho các em. Tội nhứt là bên ni, số lượng đông mà chỗ ở lại chật, đành chịu vậy.
Về thức ăn thì có Phật tử tự nguyện mang đến, tội nghiệp họ, nhiều người muốn mang đến nhưng lại sợ bị liên lụy gì đó nên cũng e ngại. Tôi thấy Phật tử ở Lâm Đồng nói chung và Bảo Lộc này nói riêng thương tăng ni đang tạm trú tại đây lắm. Một số Phật tử tình nguyện tới nấu ăn giúp, nhưng dần dần tôi có hạn chế, để họ còn lo việc gia đình nữa, tôi nói để các em tự thay nhau đảm trách việc này. Các em làm tốt lắm.
Mùa này ở Bảo Lộc đang là mùa mưa, lại bị dầm mưa khi di chuyển từ tu viện Bát Nhã ra đây, thế có nhiều người mắc bệnh không?
Có, nhưng cảm bình thường thôi. Một số em bị đau, chúng tôi đã chủ động đưa đi chữa trị. Ở đây cũng có thuốc men tương đối cho những bệnh thường. Nói chung, hiện nay cũng tạm ổn, các em đã nhanh chóng đi vào ổn định, thương và biết nghe lời nhau lắm.
Có lời khuyên cáo nào với Thượng tọa về việc tạm trú của số tăng ni hiện ở tại chùa?
Có chứ, nhưng tôi nói, người tu có tâm từ bi, thấy người hoạn nạn còn cứu giúp, cứu đến các sinh vật như tôm cá, huống nữa là con người. Tôi thấy hoạn nạn, nhất là thấy các em nhỏ có chí và dám từ bỏ những thú vui bình thường để xuất gia, sống đơn giản, tu học nghiêm túc như vậy ai lại không thương?
Việc tôi, là người tu đi trước, tôi làm được gì thì làm. Còn việc quản lý con người là thuộc về các cơ quan chức năng. Họ muốn tiếp xúc với số tăng ni này, tôi sẵn sàng hỗ trợ trong tư cách là một người thầy tu, nhưng không làm thay họ. Tôi nghĩ những đề nghị giải pháp đã có nói trong các bản tường trình và báo cáo của Ban Trị sự PG tỉnh lên Trung ương rồi.
Khi tôi hỏi các em nhỏ có ai đã gặp hoặc thấy mặt Sư ông – Thiền sư Thích Nhất Hạnh chưa? Tôi thấy hơn một nửa trong số này nói là chưa. Điều gì làm họ quyết định xuất gia? Đó là không khí tu tập tại tu viện Bát Nhã. Các em xuất gia nhỏ tuổi này rất vô tư, không có liên lụy gì. Họ có duyên với pháp môn Thiền Làng Mai thì cũng là lý do chính đáng như những người khác có duyên với các pháp môn tu tập khác mà thôi. Giải quyết thỉnh nguyện của các em như thế nào đó là quyền của Trung ương Giáo hội, của những cơ quan chính quyền có chức năng.
G.N. thực hiện (11/10/2009)