Thứ Sáu, 19 tháng 9, 2008

ĐỌC “ĐƠN KHIẾU NẠI KHẨN CẤP” CỦA TGM NGÔ QUANG KIỆT

TIN NÓNG:
"Gửi ông không muốn làm người Việt": http://www.vtv.vn/VN/TrangChu/TinTuc/CKX/2008/9/20/182569/

- "Mặt thật tự bộc lộ": http://www.hanoimoi.com.vn/vn/41/181178/


- Xem Video thông tin mới nhất về vụ "Tòa khâm": http://www.vtv.vn/VN/TrangChu/TinTuc/CKX/2008/9/20/182505/

Thật là cực nhọc cho ông Ngô Quang Kiệt: “dầm mưa dãi nắng” cầu nguyện (giáo dân dầm mưa dãi nắng còn nhiều hơn ông ta); đi chu du sang “thánh địa” Hoa Kỳ, kêu gọi các giám mục nước ngoài ủng hộ “sự nghiệp đòi đất” (nhiệt tình với tài sản của Vatiacan để mong đội được chiếc mũ đỏ Hồng y); mạnh miệng ra “tuyên ngôn”: “ai cầu nguyện mà phải đi tù tôi sẽ đi tù thay” (chẳng có ai cầu nguyện mà phải đi tù cả, chỉ có những kẻ phá phách, gây rối trật tự an ninh mới phải đi tù thôi, mà dù có muốn đi tù thay thì cũng chẳng ai cho, trừ khi chống chế độ như Nguyễn Văn Lý); cố đấm ăn xôi với khẩu hiệu “công lý và hòa bình” (nhưng các “linh mục” và “giáo dân” quá khích lại ngang nhiên thách thức, miệt thị pháp luật của một quốc gia có chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, chẳng có hòa bình nào cho những mảnh đất mà phần lớn nhờ vào bàn tay cướp phá của thực dân mà có, trong đó có chiếm phá ngôi chùa Báo Thiên nổi tiếng lịch sử của Phật giáo); rêu rao cầu nguyện “bất bạo động” (nhưng tại “tòa khâm sư” và tại “Thái Hà” lại vác búa, kìm, xà beng… đi phá đổ cổng và tường rào, gây rối loạn cả một khu vực dân cư)…

Những điều kể ra trên đây và lá “đơn khiếu nại khẩn cấp” của ông Ngô Quang Kiệt cho thấy ông ta đã đi sai một nước cờ ngay từ đầu, có nghĩa rằng muốn, thậm chí rất muốn chính trị hóa vụ việc để “chọc trời quấy nước” tại Việt Nam bằng cách đổ xô nhau đi cầu nguyện, tung tin về cái gọi là “linh địa”, ‘hiển linh” nhằm lôi kéo tín đồ ngoại tỉnh, gây sức ép lên chính quyền… Thế nhưng điều đáng nói, ngoài miệng thì kêu rằng “không chính trị hóa vụ việc”, “chỉ là tranh chấp dân sự”. Chao ôi, nói như vậy, giống như ông ta là đại diện của “dân oan đòi đất”, nhưng có oan thật hay không khi phần lớn đất đai hoành tráng ở các khu đô thị có được là do “cấu kết, ăn chia” với chính quyền thực dân đô hộ Việt Nam mà có. Chữ oan, tiếng oan, còn thấm khắp trên những mảnh đất mà nhà thờ cướp phá ấy. Giả danh một “nỗi oan” để đi “đòi” trên một mảnh đất “đầy oan” ấy, chẳng có gì khác hành vi thủ tiêu nỗi oan của người khác và hợp thức hóa “nỗi oan” của mình. Không ngờ đây lại là “tuyệt chiêu” của những chủ chăn như ông Ngô Quang Kiệt.

Chúng ta hiểu, tại sao khi nghe tin “Tòa khâm sứ” được sử dụng làm công viên cây xanh, thư viện, ông ta lại “mất ăn mất ngủ” để viết đơn khẩn cấp như thế, vì vốn dĩ vụ này là do ông ta khơi mào, bóc tem “cầu nguyện vì công lý và hòa bình”, tức là danh xưng ấy lần đầu tiên được người Công giáo sử dụng ở Việt Nam. Các vua Hùng có sống dậy cũng phải bái phục ông Ngô Quang Kiệt, vì hình như thời Pháp thuộc các vua Hùng cũng nhiều lần về báo mộng cho dân Chúa sử dụng khẩu hiệu ấy để đánh đuổi thực dân, nhưng khốn nỗi khi các vua Hùng hiện về, lại bị họ chỉ vào mặt nói rằng: “các người là quỷ xa tăng hiện hình, chuyên làm nghề xúi bậy”. Đúng là bộ mặt của nhưng kẻ nhiệt tình cổ súy cõi trời nhưng lại toàn đi gây tai họa ở cõi người. Đây cũng là lần đầu tiên Vatican có điều kiện để “vun xới” cho lịch sử của mình bước sang trang khi có một Giáo hội Việt Nam kêu gọi “công lý và hòa bình” cho mảnh đất từng là thuộc địa. Đây cũng là lần đâu tiên Vatican có điều kiện để thay đổi hình ảnh đầy bạo ngược của mình đối với các dân tộc thuộc địa và các nền văn hóa bị đô hộ khi đã có Giáo hội Việt Nam tôn vinh “bất bạo động”.

Và đây cũng là những hình ảnh “đẹp mắt nhất” của Giáo hội Việt Nam mà Vatican đáng tự hào, đó là những điều kể trên được thực thi ngược: lúc cả dân tộc Việt Nam thống khổ, người Công giáo “ăn trên ngồi trốc” hưởng quyền lợi từ thực dân thì chẳng những không kêu gọi công lý và hòa bình mà còn góp tay với kẻ thù đàn áp, chiếm phá Việt Nam. Giám mục Puginier đã từng nói một câu mà người Việt Nam đáng phải khắc bia vàng để ghi nhớ: “Không có giáo dân Việt Nam hỗ trợ thì quân Pháp như con cua bị bẻ gẫy hết càng, không có cách nào có thể xâm chiếm nổi Việt Nam”. Tôn vinh “Bất bạo động” bằng việc vừa đọc kinh “Hòa bình” vừa lao vào phá đổ cổng, tường rào, bê tượng, cắm mốc thánh giá để chiếm đất hay sao?

Ông Ngô Quang Kiệt nếu đã lên kế hoạch tái chiếm đất thì cũng nên làm cho chi tiết, ai lại để những “tuyên ngôn to tát” ấy bị mỉa mai một cách chéo ngoe như vậy.
Nói dài dòng như vậy để dễ dàng hơn khi tiếp cận với “đơn khiếu nại khẩn cấp” của ông Ngô Quang Kiệt.
Trong đơn gửi Chủ tịch nước, Thủ tướng chính phủ, Ban tôn giáo, UBND Thành phố Hà Nội, Công an Thành phố Hà Nội… ông Ngô Quang Kiệt viết:

Sáng 19/9/2008, tại khu đất Tòa khâm sứ số 42 phố Nhà Chung thuộc Tòa Tổng Giám Mục Hàa Nội, một lực lượng hùng hậu gồm cảnh sát cơ động, cảnh sát trật tự, nhân viên an ninh, dân phòng, chó nghiệp vụ đã tập trung phong tỏa Tòa Tổng Giám Mục Hà Nội và phố Nhà Chung. Một lực lượng khác đang tiến hành phá vỡ hàng rào và một số hạng mục, cày xới mặt tiền Tòa Khâm sứ của chúng tôi”.

Trong đoạn này, chúng ta chú ý đến câu “Tòa Khâm sứ của chúng tôi”. Không biết của chúng tôi là của ai? Có đời nào khi chế độ thay đổi, giấy tờ của chính quyền thực dân hết hiệu lực, đất đai trả về cho dân tộc Việt Nam, nhà nước trực tiếp quản lý mà nó vẫn còn là của mấy ông “khâm sứ”? Lưu ý nhà nước Việt Nam chưa một lần đặt quan hệ ngoại giao với Vatican nên “Tòa khâm sứ” ấy không có giá trị gì về mặt pháp lý. Nếu xét về sở hữu chủ thực sự của khu đất thì đất khu phố Nhà Chung là đất của Phật giáo, nơi từng hiện diện ngôi chùa Báo Thiên (đệ nhất danh lam thắng cảnh tại kinh thành Thăng Long với những lễ hội lớn vào bậc nhất cả nước) mới bị thực dân và giáo sĩ cấu kết chiếm phá vào cuối thế kỷ 19. Không biết khi hay tin xe ủi xới mặt tiền có ai nghĩ đến việc trước đó cả một ngôi chùa lịch sử bị phá sập không phải để xây công viên, thư viện công ích đâu mà để xây nhà thờ Lớn và “Tòa khâm” phục vụ cho giáo dân bây giờ? Chẳng lẽ mỗi khi ra vào cầu nguyện trước mảnh đất ấy, lương tâm của họ chưa một lần cất lên tiếng gọi.

Quả tình rất khó khăn khi người như ông Ngô Quang Kiệt có thể mượn danh Tổng Giám mục Hà Nội mà xách động giáo chống chiếm phá cuồng vọng như vậy. Ông Nguyễn Văn Sang là người ngoại tỉnh cũng nhảy vô Hà Nội để mượn lời người khác cao giọng thực dân nhằm chiếm đất đến cùng như sau:

“Muốn chấm dứt việc người Công giáo cầu nguyện đòi tài sản mà không can dự đến Phật giáo, trước những viễn cảnh tồi tệ giả định, tại sao không xúc tiến giải pháp đơn giản hơn rất nhiều, là có bước đi pháp lý thích hợp và một ít thoả hiệp để giải quyết rốt ráo vấn đề? Nhà nước “mất” về tay các giáo phận một vài toà nhà hay khu đất mà trong quá khứ không lâu đã là của họ, chẳng tốt hơn là mất đi khối đoàn kết dân tộc và sự bình yên trước viễn cảnh xung đột tôn giáo sao? Về phía (những người lấy danh nghĩa) Phật giáo, đã mấy trăm năm nay (Chùa Báo Thiên từ năm 1883 và gần hơn nữa đến thời điểm 1945 mà cho là mấy trăm năm, quả tình rất “lưu manh” – Trung Ngôn) mất những chùa chiền nào đó, nay nếu tiếp tục “mất” thì có tăng thêm chút mất mát nào không, thay vì lại “tự nguyện” nhảy vào thế chân Nhà nước trong cuộc tranh chấp này, để mất đi cả căn tính vốn có của đạo Phật? Nếu những tài sản mà phía Công giáo chứng minh được sở hữu có về với họ, thì cũng chỉ là thêm cho một bộ phận con dân nước Việt được có được những cơ sở vật chất mới phục vụ cho đời sống tâm linh, cho việc giáo dục, giải trí, hay làm từ thiện…, không phải là điều Nhà nước ta cũng chủ trương hay sao? Và thêm một bộ phận chúng sanh có được niềm hoan hỉ như thế, nào có khác chăng với tinh thần nhà Phật?” (VietCatholic ngày 22/2/2008 – Lê Hữu Tuân).

Xin cảm tạ mọi người, đã kiên nhẫn đọc những dòng trên và xin tha thứ những gì sai phạm hoặc đụng chạm tới lòng tự ái của quí vị.”

Trước lý luận rất “lưu manh” kể trên, tác giả Trung Ngôn đã viết:

“Ông Nguyễn Văn Sang còn ra vẻ “trí thức” khi xin cảm tạ và xin tha thứ, nhưng ông ta có hiểu hay không thể hiểu cái “mất” ở đây không chỉ là mất một ngôi chùa hay một mảnh đất mà còn là nỗi nhục mất nước, mất chủ quyền dân tộc. Cái mất ấy gắn với bao nhiêu thống khổ và tang thương của dân tộc Việt Nam và của Phật giáo. Cái mất ấy có bù đắp được không khi lương tâm của người ta đã bị “dã thú ngoại xâm” và “đầu óc thực dân” cướp đi mất?

Thế nào gọi là chứng minh được sở hữu? Ở vài mảnh bằng khóan của chính quyền thực dân? Nói vậy thì miền Nam Việt Nam là của Ngô Đình Diệm rồi, có cả Mỹ, Pháp làm chứng đấy sao hậu duệ… không về mà đòi đất đi. Nói vậy thì Campuchia là của Khơme đỏ rồi còn gì… Những thể chế đó mới chỉ sụp đổ từ những năm 1975, 1980 còn gần hơn nhiều cái mốc năm 1950, 1960 (đâu cần phải nói rằng đó là quá khứ không xa). Điều đó càng khiến người ta nghi ngờ về cái gọi là “con dân nước Việt”. Tôi trung không thờ hai chúa. Qua vụ các vụ cầu nguyện đòi đất, Đảng Cộng sản, Chính phủ, Nhà nước Việt Nam đều bị người Công giáo quá khích khắp nơi miệt thị, khinh thường, đặt mình ra ngoài pháp luật, trong khi đón rước những bộ phái quèn quèn của Vatican (ngoại quốc) thì họ đón còn hơn cả đón vua, không biết khi dùng từ “con dân nước Việt” họ có cảm thấy thoải mái với lương tâm hay không?

Thật dễ hiểu vì sao cái “pháp lý ngoại thuộc” còn ám ảnh chủ chăn nhiều như thế, bởi người chủ chăn mà lý luận kiểu “chẳng được đầu voi thì vẫn còn đuôi chuột” này, tức là “cố đấm ăn xôi” để vớt vát được phần nào thì vớt vát. Tuy nhiên, khi ông Nguyễn Văn Sang ngụy biện như vậy ông có đặt câu hỏi: Đạo Chúa bước vào Việt Nam từ hai bàn tay trắng, tuy nhiên “cơ ngơi” (đất đai, nhà thờ, tu viện, trường học…) có được lại không phải do hai bàn tay trắng ấy làm nên mà phần lớn do lợi dụng vào bàn tay xâm lược của thực dân bóc lột, cướp phá của dân tộc Việt Nam mà có. Vậy nay nếu nó có trở về với “hai bàn tay trắng” thì cũng có “mất” gì đâu mà “đòi”.

Cũng thưa thêm với ông Nguyễn Văn Sang, Phật giáo Lý - Trần và những vị vua Phật tử thuần thành, trước giặc Tống, giặc Nguyên - Mông xâm lược chưa từng để mất đất vì lý do để cho một bộ phận chúng sinh (giặc Tàu) có được niềm hoan hỷ. Thật lấy làm lạ khi tại sao “giáo dân” (để phân biệt với những giáo dân chân chính, biết suy nghĩ từ bài học quá khứ và ứng xử thích hợp trong hiện tại) đi chiếm đất của người khác mà có thể lấy làm “hoan hỷ” như vậy?”

Ông Nguyễn Văn Sang còn đề cử nhân vật Lữ Giang, một kẻ cũng lưu manh giả danh trí thức không kém, lúc có lợi thì bám chân Cộng sản, lúc không có lợi thì bám gót Vatican và Mỹ. Lữ Giang từng bị lật tẩy bộ mặt thật của y trên các trang như sachhiem.net, giaodiemonline.com, dongduongthoibao.org. Không những thế y còn là một tay xuyên tạc, chửi bới Phật giáo có hạng. Thế những đối với vấn đề “cầu nguyện” chiếm đất, y không biết làm gì hơn với những bài viết phản biện của một nhóm Phật tử trẻ, bèn xuyên tạc và viết bài “Chơi đòn hạ sách” một cách ấu trĩ, vụng về, nhằm quy kết bừa bãi, tung hỏa mù với “con chiên”, trong khi hắn chính là cao thủ trong việc “chơi đòn hạ sách”, một kẻ tiểu nhân luôn “ném đá giấu tay”, đánh phá Phật giáo không chừa một thủ đoạn nào.

Nếu là người đàng hoàng thì bài nào người ta viết ngược với mình thì phản biện lại, có ai cấm đâu. Nhưng y thấy mình đuối lý bèn quy kết phattuvietnam.net là của Mặt trận Tổ quốc, rồi Phật giáo quốc doanh…

Thế mà y lại được Nguyễn Văn Sang trọng vọng và gọi là “nhà văn” (nhà văng tục, xuyên tạc thì đúng hơn). Thật đáng nực cười! Nhưng nhờ thế mà chúng ta biết được cái gọi là “của chúng tôi” rất thống nhất với nhau và được lặp lại nhiều lần trong những hành vi chiếm đất.

Khu đất này sau thời gian Tòa Tổng Giám mục Hà Nội đã nhiều lần có đơn yêu cầu trả lại nhưng chưa được giải quyết thì tối ngày 18/9 và sáng ngày 19/9/2008, Đài Truyền hình đã đưa tin về dự án, trong đó đã xuyên tạc nội dung và hình ảnh để dọn đường dư luận cho việc làm bất chấp luật pháp này”.

Không hiểu sao ông Nguyễn Quang Kiệt lại tự cho mình cái quyền đứng trên cả pháp luật nhà nước để biến quan tòa thành bị cáo như vậy. Có lẽ do ông ta chỉ đọc toàn những thứ “pháp luật” của nhà thờ, của Vatican nên chẳng thèm để ý gì đến pháp luật nhà nước cả. Không lẽ ông ta “đói” thông tin đến mức cả tháng nay, nhà nước, đa số dân chúng Việt Nam trong đó có cả giáo dân lên án hành vi vi phạm pháp luật của những người cầu nguyện mà ông ta cũng chẳng biết gì? Làm gì mà không biết, nhưng “giả nai ngơ ngác” vậy thôi.

Trước khi nói trả lại thì phải nói đến khái niệm bị mất. Phật giáo bị mất chùa Báo Thiên thì chẳng có linh mục nào kêu gọi trả lại. “Tòa khâm” bị chưng thu do nhà thờ cho tên Khâm sứ Vatican chống phá cách mạng “mượn” (xây dựng cơ sở) thì cố tình lờ đi. Còn nhớ Giáo hoàng thời đó còn ra sức vận động Mỹ bỏ bom nguyên tử để xóa sổ miền Bắc bất chấp bao nhiêu sinh linh đồng bào.

Hơn nữa trong vụ tranh chấp tại Thái Hà, bao nhiêu luật, nghị định, thông tư của nhà nước trong thời kỳ cải tạo xã hội ở miền Bắc đều chỉ ra sự thống nhất cần phải quản lý hết những nhà cho thuê, cho mượn, và đất nội thị. Giáo xứ Thái Hà thì khăng khăng bám vào một thông tư 73/TTG và cho rằng nhà thờ không cho thuê, cho mượn nên không nằm trong chính sách ấy. Nhưng ở bên “Tòa khâm sứ” thì ông Ngô Quang Kiệt lại nói ngược lại “Tòa khâm sứ là cho Khâm sứ mượn” (không phải là “khâm sứ” đàng hoàng mà là khâm sứ phản động bị trục xuất).

Không hiểu “cầu nguyện” chiếm đất kiểu gì, lật lọng như thế nào mà bên này đặt mình ra ngoài khái niệm “cho mượn” để lách luật, bên kia lại hô hào vì “cho mượn” nên bây giờ phải “trả lại”, không cần bàn đến pháp luật? Chỉ có một nghĩa thôi, bắt chước kiểu cách chiếm đất thời ngoại thuộc: đặt tượng hình Chúa vào tung tin Đức mẹ hiển linh, hợp thức hóa nó thành linh địa, thế là “OK” mọi chuyện.

Không biết ai là những người đang bất chấp pháp luật của nhà nước Việt Nam gần một năm nay mà lại nói chính quyền là bất chấp pháp luật. Đúng là vừa ăn cướp vừa la làng. Quả thật đáng sợ khi hình ảnh những “công dân” sống trong xã hội Việt Nam bị bôi nhọ đến mức muốn làm gì thì làm như vậy.

Ông Ngô Quang Kiệt tiếp tục bù lu bù loa:

Vụ việc này đang đi ngược lại với đường lối đối thoại mà nhà nước và Tòa Tổng Giám mục Hà Nội đang tiến hành. Vụ việc này là hành động bất chấp nguyện vọng của cộng đồng Công giáo, bất chấp luật pháp và coi thường tổ chức Giáo hội Công giáo Việt Nam. Việc này cũng là hành động chà đạp lên đạo đức, lương tâm mọi người trong xã hội đối với tôn giáo được nhà nước công nhận”.

Ôi thôi, đến đây thì không muốn chịnh trị hóa cũng không được nữa rồi. Đuôi cáo đã lòi ra. Chỉ còn biết “đối thoại” bằng luật rừng, xông vào chiếm đất, phá đổ cổng, tường rào, bôi xấu chế độ, miệt thị pháp luật… Xã hội này nếu bất cứ tổ chức nào cũng “đối thoại” như vậy thì Việt Nam còn có hình ảnh gì đáng để đem khoe ra thế giới?
“Nguyện vọng”? Thi đại học cũng còn có đến 3 nguyện vọng, có nghĩa rằng cơ hội còn có nhiều ở phía trước, nhưng khốn nỗi “điểm kém quá” (tuân thủ việc “học pháp luật” thì ít mà “quậy” cho nhà nước tung lên thì nhiều) thì làm gì có “trường” nào chấm điểm đậu được. Đành phải “học lại” để sang năm “thi lại” thôi. Nguyện vọng bao giờ cũng phải chính đáng, và không có gì chính đáng hơn là tuân thủ pháp luật. Chẳng có ai đi chiếm đất của người khác mà lại nói đó là “nguyện vọng”. Cũng như vậy, một kẻ từng đi ăn cắp đồ của người khác, khi bị công an bắt, hắn bèn nói rằng, nguyện vọng của tôi là muốn có một cái nhà, và bây giờ tôi phải đi ăn cắp để có được cái nhà như “nguyện vọng”. Nghe rồi, có chịu nổi hông? Cười thôi! Vì hắn nói chuyện có vẻ như tâm thần không được ổn định.

Ôi, cũng trên mảnh đất mà đạo đức, lương tâm từng bị đầu óc thực dân lấy đi mất ấy, nay lại được nói ra một cách thản nhiên, không hề biết ngượng miệng như thế, không biết phải gọi ông Ngô Quang Kiệt là gì mà sao ông ta có tài chuyển hoán giỏi đến như vậy? Nhưng nếu có dùng đến chữ đạo đức, lương tâm thì ông ta cũng phải nên nhớ bỏ cái cụm từ “mọi người trong xã hội” ra vì như thế chẳng khác nào bảo mọi người trong xã hội Việt Nam đang “cá mè một lứa” bất chấp pháp luật để chiếm đất. Chẳng có “mọi người trong xã hội” nào cả ngoài mấy ông “linh mục” và “giáo dân” cuồng tín đó thôi. Nói ra cụm từ đó cũng phải biết mắc cỡ chữ. Giáo hội được nhà nước công nhận về mặt luật pháp nhưng lại chống đối luật pháp nhà nước, cụ thể là vi phạm pháp lệnh tín ngưỡng tôn giáo hay sao?

Sau màn cực lực phản đối là yêu cầu của ông Ngô Quang Kiệt:

1. Chấm dứt ngay hành động phong tỏa Tòa Tổng Giám mục Hà Nội và việc phá hoại tài sản.

Không nói rằng đây là cái giọng trịch thượng mà chỉ cần chủ ý đánh mập mờ khái niệm đã thấy ông Ngô Quang Kiệt đang rối, đang mất bình tĩnh và sáng suốt thế nào rồi. Tội phá hoại tài sản là tội mà nhà nước đang truy cứu với những giáo dân. Hình như đã có 7, 8 người bị bắt tạm giam rồi thì phải. Có ai chịu nổi hông, khi nhà nước đưa tin quy họach khu đất làm công viên, thư viện, đa số người dân Hà Nội và người dân cả nước xem đó là chuyện sáng suốt và vui mừng đón chờ ngày khởi công, thế mà lại bị quy là “phá hoại tài sản”. Hơn nữa khi nói như vậy khiến người ta cứ nghĩ rằng nhà nước đang phá hoại tài sản của Tòa Tổng Giám mục hiện thời chứ không phải khu đất mà quận quản lý mấy chục năm nay, câu này mà được dịch ra tiếng Anh thì có lẽ khối người nước ngoài ngộ nhận là nhà nước đập phá cơ sở tôn giáo.

2. Trả lại nguyên trạng khu đất cho chúng tôi sử dụng vào mục đích tôn giáo, phục vụ cộng đồng.

Ôi chao, cứ phải nhắc lại mãi cái chuyện “Quan tòa bỗng dưng trở thành bị cáo”. Cái gọi là “trả lại nguyên trạng” ấy chính quyền biết bao lần nhắc nhở đối với giao dân rồi. Nhưng tượng Đức Mẹ vẫn còn nằm chình ình ra đó, mấy kẻ cầu nguyện quá khích sờ vào là có cơ hội “lên thiên đường vĩnh cửu ngay” còn công an sờ vào, coi chừng “xuống địa ngục hết cả”. Tuy nhiên, cũng như câu trên, thà ông Ngô Quang Kiệt cứ nói thẳng với nhà nước rằng, chúng tôi tu hành nhưng khao khát đất đai trên trần thế này tưởng chừng như hông chịu nổi nữa rồi, xin ban cho chúng tôi một miếng đất cho chúng tôi sinh hoạt. Đừng lôi khái niệm “cộng đồng” vào cuộc, vì cộng đồng nào không biết giáo dân đã “phục vụ” họ gần 1 năm nay với những màn diễu hành, gõ cồng chiêng cả sáng lẫn đêm như thế. Nhưng những giáo dân khi đi cầu nguyện là phải ký tên, không tiếp xúc với gnười lạ mặt, tài liệu bên ngoài không được nhận, tin tức bên ngòai không được đọc… Giáo dân được giáo dục như vậy, không biết họ đang sống với “cộng đồng” nào? Người Việt ư? Nếu biết sống vì cộng đồng thì làm gì có chuyện cầu nguyện bất chấp “cộng đồng” phản ứng như vậy, khi dân cư chung quanh khu vực ngao ngán hết mức bởi cồng chiêng, loa phóng thanh hò hét nhiều tháng trời…. Thế thì cái gọi là “phục vụ cộng đồng” nghe quá dỏm.

3. Các cơ quan chức năng và Thành phố Hà Nội phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về những điều có thể xảy ra trong việc chiếm đoạt tài sản của chúng tôi. Chúng tôi có quyền sử dụng những khả năng có thể để bảo vệ tài sản của chúng tôi.

Đọc đến đây thì mọi người đang tưởng tượng ra rằng toàn thân ông Ngô Quang Kiệt như đang cháy đỏ rực. Cứ như kinh Hòa bình sắp bị đốt cháy rồi, cứ như thiên binh đang được cử xuống trần để chuẩn bị một cuộc chiến tranh chiếm đất tại hạ giới rồi...

Sợ quá đi, nhà nước và hơn 90% người dân Việt Nam đang chuẩn bị tiêu tùng vì những người cầu nguyện quá khích này rồi. Thành phố vì hòa bình sắp hết hòa bình bởi chính những người đang hàng ngày tụng kinh “Hòa bình” rồi.

Nhưng mọi người vẫn đang kiên nhẫn đón chờ tinh thần “bất bạo động” của giáo dân sau lời phát biểu này của ông Ngô Quang Kiệt. Ôi cái từ “bảo vệ tài sản của chúng tôi” lại được mở miệng ra từ một người chủ chăn có học thức và vai vế như ông Ngô Quang Kiệt. Tài sản đất đai của dân tộc Việt Nam, của ông cha, của biết bao thế hệ người Việt, của biết bao tín ngưỡng tôn giáo đổ máu xương giữ gìn bảo vệ. Nay trở thành “của chúng tôi” một cách thản nhiên. Đó là chưa kể đến mảnh đất ấy Phật giáo xây dựng và nắm quyền sở hữu gần 7 thế kỷ, và đau đớn thay bị chính “tổ tiên ngoại thuộc” của những người đang tự xưng là “của chúng tôi” cướp phá? Đạo lý ở đâu? Lương tâm ở đâu?

4. Yêu cầu có sự can thiệp khẩn cấp của ngài Chủ tịch nước, ngài Thủ tướng Chính phủ, chính quyền Thành phố Hà Nội và các cơ quan liên quan để dừng ngay những hành động này.

Ông Ngô Quang Kiệt biết rõ việc quy hoạch xây dựng công viên cây xanh đó mới là đích thực phục vụ cộng đồng, mới đích thực là một hòa giải sáng suốt, tránh cho hình ảnh của người công giáo khỏi mất mặt nếu nhà nước bất ngờ quyết định trao cho Phật giáo phục dựng chùa Báo Thiên đúng với tinh thần bảo vệ, phục hồi di sản. Tất cả các ngôi chùa bị phá bỏ chỉ còn nền đất trong thời kỳ chiến tranh này đều được nhà nước trả về cho các làng xã phục dựng lại chùa chiền. Huống gì chùa Báo Thiên, một di sản nổi tiếng vào bậc nhất quốc gia, lẽ nào lại không xứng đáng được ứng xử như vậy. Giáo hội Phật giáo đã chính thức lên tiếng rằng mảnh đất đó đã bị giám mục Puginier cấu kết dùng quyền lực chiếm phá, nên dù dưới bất cứ danh nghĩa gì nó cũng không thể xứng danh sở hữu chủ và không có giá trị pháp lý. Nhà nước có đành lòng để lời phản biện của Phật giáo chìm lỉm vào bất công như vậy không, bởi chính Phật giáo mất rất nhiều chùa chiền vào tay nhà thờ nhưng không bao giờ nhận được dù chỉ là một lời xin lỗi.

Ông Ngô Quang Kiệt không biết cám ơn nhà nước vì điều này thì thôi lại còn ngược ngạo, thách thức ra “yêu sách” và cả “đe dọa” như vậy. Đó thực sự không phải là hình ảnh của một người tu sĩ chân chính. Ông Ngô Quang Kiệt không còn một hình ảnh đẹp mắt nào nữa với chính quyền, với 90% dân số trong đó có người Phật tử khi xúi giục giáo dân chống phá nhà nước, gây mất ổn định an ninh chính trị, gây mất đoàn kết dân tộc khi muốn tái chiếm một mảnh đất, nơi còn ghi đậm vết nhơ của nhà thờ trong thời ngoại thuộc.

Trần Điều

- Xem lại bài: "Sự thật nào sẽ giải phóng các anh em?":
http://huongsenviet.blogspot.com/2008/09/cu-nguyn-i-t-s-tht-no-s-gii-phng-cc-anh.html)

- Xem thêm bài mới nhất: "Không thể đi ngược lại pháp luật và lợi ích của nhân dân: http://www.hanoimoi.com.vn/vn/41/181088/

Thứ Hai, 15 tháng 9, 2008

TÁI CẦU NGUYỆN TẠI “TÒA KHÂM SỨ”: HÀNH VI CÙNG ĐƯỜNG?


Trong chuyến thăm và làm việc 4 ngày tại Việt Nam, Ngày 12-9-2008, Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ tổ chức họp báo, thật trùng khít thời điểm được “trông chờ”, cũng là cơ hội cuối cùng của “giáo dân” để xem ông ta có phát biểu gì không về vấn đề “cầu nguyện đòi đất” trước khi kết thúc chuyến đi. Ông Ngô Quang Kiệt trước đó đã nhanh chóng kịp thời về nước sau một chuyến đi “kết tình, kết nghĩa” tìm “liên minh cầu nguyện đòi đất”. Nhưng thật thất vọng, điều ông Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ quan tâm nhất lại là kinh tế.
Không còn đủ bình tĩnh nữa, ngày 13-9-2008 linh mục và giáo dân tiếp tục tái “cầu nguyện” trước “Tòa Khâm sứ” nhằm gây chú ý dư luận ngoài nước, cũng là thể hiện thái độ “quyết đòi Tòa Khâm cho bằng được” (cùng đường dứt giậu) như phát biểu trên BBC của ông Ngô Quang Kiệt…

Sau thất vọng về lá thư của Quốc vụ khanh Vatican, bởi họ xem các hành vi cầu nguyện đòi đất quá khích tại “Tòa Khâm sứ” có thể không kiểm soát được, gây tổn hại chung đến mối quan hệ giữa Vatican và nhà nước Việt Nam, đặc biệt nó đang “ấm” dần lên (sau những vụ cầu nguyện), là sự thất vọng “toàn phần” của những người “tổ chức” cầu nguyện “đòi đất” khi Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ sang thăm Việt Nam. Mong rằng ông Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ này nếu không tới thăm những người cầu nguyện thì chí ít cũng phải ban phát đôi điều gì đó về chuyện “cầu nguyện đòi đất”, ai dè ông ta chỉ lo phát biểu về quan hệ kinh tế và mong muốn Mỹ sẽ quan hệ bền chặt hơn với Việt Nam, còn lĩnh vực “nhân quyền”, “tôn giáo” thì rất thờ ơ và chẳng quan tâm đến vấn đề cụ thể nào cả. Bởi Mỹ từng tuyên bố vào ngày 02-05-2008, rằng không thấy có lý do gì để đưa Việt Nam trở lại danh sách các nước vi phạm tự do tôn giáo (CPC).

Ngày 12-9-2008, Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ tổ chức họp báo, thật trùng khít thời điểm được “trông chờ”, cũng là cơ hội cuối cùng để xem ông ta có phát biểu gì không về vấn đề “cầu nguyện đòi đất” trước khi kết thúc chuyến đi. Ông Ngô Quang Kiệt trước đó đã nhanh chóng kịp thời về nước sau một chuyến đi “kết tình, kết nghĩa” tìm “liên minh cầu nguyện đòi đất”.

Ngày 13-9-2008 linh mục và giáo dân tiếp tục tái “cầu nguyện” trước “Tòa Khâm sứ” nhằm gây chú ý dư luận nước ngoài, cũng là thể hiện thái độ “quyết đòi Tòa Khâm cho bằng được” như phát biểu trên BBC. Và như “được sắp đặt lịch trình”, trước đó một ngày, ông ta đến thăm và cổ động việc “cầu nguyện đòi đất” tại Thái Hà, cũng như những người bị chính quyền bắt vì tội phá hoại tài sản hợp pháp của người khác và gây mật trật tự an ninh, những mong con mắt diều hâu Mỹ có thể nhìn xa vạn dặm, nhưng với bao mỏi mòn thì bên kia vẫn “bặt vô âm tín”. Có điều khi đi thăm những gia đình có người bị bắt này chẳng thấy bài viết của truyền thông Công giáo nào nói rằng ông Ngô Quang Kiệt sẽ “đi tù thay” cho họ. Làm gì có chuyện đó, nhưng quả thực cái câu nói “ai cầu nguyện mà phải đi tù, tôi sẽ đi tù thay” đã có những “lợi thế to lớn” để kích động sự cuồng tín của giáo dân ít học và dễ dao động.

Điều này được thể hiện rất rõ ở một số điều trong Thông báo ngày 9-9-2008 của các linh mục giáo xứ Thái Hà: 5. Không nên nghe theo và làm theo lời những người không quen biết và/ hoặc những người không thuộc đoàn mình. 9. Chỉ nhận những giấy tờ, tài liệu do Giáo xứ cung cấp tại sân nhà thờ. Không nhận giấy tờ, tài liệu, ảnh tượng ở bất cứ chỗ nào trong khu vực giáo xứ, để tránh bị kẻ xấu lợi dụng và tránh tai vạ cho mình. 13. Nếu muốn biết sự thật về vấn đề đất đai đang diễn ra giáo xứ Thái Hà, xin vui lòng đọc các bài viết dán ở các bảng thông tin, ở các tài liệu do giáo xứ để trên bàn trong khu vực sân nhà thờ hoặc vào tham khảo tại các trang web sau đây: Chuacuuthe, Vietcatholic, Vietcatholicnews

Nếu việc “cầu nguyện” vì “công lý và hòa bình” theo như miệng của những người chủ chăn kêu gọi “đối thoại” thì cũng phải cho giáo dân được “đối thoại” về mặt thông tin xem người khác nhìn sao, nghĩ sao, bàn sao về mình chứ. Bởi có bao giờ mặt mình nhọ mà mình thấy mình nhọ bao giờ đâu. Phải biết “soi gương” và qua phát hiện của người khác thì mới thấy được mặt mình nhọ như thế nào chứ. Còn cái “sự thật” kiểu “mẹ hát con khen”, và “đối thoại” kiểu “hội tu kín” với nhau thì đủ biết nó đã thiếu minh bạch và đàng hoàng rồi.

Sự thật cho thấy, càng nôn nóng, càng ồn ào về “đòi đất” thì các trang thông tin Công giáo càng chỉ vẽ cho người ta thấy, “sản xuất” bài viết nhiều nhưng gần như thiếu kiểm chứng, chủ quan theo lối giáo dục thời Trung Cổ, bắt người ta nhắm mắt vào mà tin, nếu không muốn nói đó chỉ là một sự ồn ào của những quả bong bóng nhiều màu nhưng dễ vỡ. Bưng bít thông tin, không cho giáo dân của mình tiếp xúc với những thông tin trái chiều, chứng tỏ việc “cầu nguyện” đòi đất (thực chất là chiếm đất) đã bộc lộ sự sợ hãi trong đường lối giáo dục của người chủ chăn: sợ sự thật, nhất là những sự thật về Thánh kinh, về giáo hội Vatican, về quá khứ của Giáo hội Việt Nam và cách thức truyền đạo bằng chiến tranh xâm lược, về những núi tội của đạo Công giáo, về khoa học, phim ảnh, tiểu thuyết…, và giờ đây là về những thông tin về “cầu nguyện đòi đất” ngoài “nhà thờ”. Qua đó có thể thấy, sự thật mới chính là điều ám ảnh Giáo hội nhiều nhất trong lịch sử.

Tuy nhiên, dù rất muốn chính trị hóa việc “cầu nguyện đòi đất” (bên ngoài miệng thì luôn bảo đó chỉ là tranh chấp dân sự), ông Ngô Quang Kiệt, linh hồn của các vụ “đòi đất” cũng không thể không thừa nhận rằng, khi truyền thông nhà nước đã vào cuộc (không như vụ “Tòa Khâm sứ”) thì hình ảnh của ông ta, của những người giáo dân cầu nguyện thực sự đã gây ra sự phản cảm trong suy nghĩ của nhân dân, trừ người theo đạo Công giáo và những người chống phá Việt Nam. Đó là những hình ảnh đập phá, ngang ngược, thách thức, hô hào, kích động rất ư là thiếu đẹp mắt. Nhưng khi đến thăm những người “cầu nguyện”, ông ta cũng đã ban “niềm vui khôn tả” này cho ông Nguyễn Văn Sang và những linh mục quyết liệt “đòi đất” đến cùng.

Đặc biệt trong thông tin một chiều với giáo dân, những chủ chăn này trong bài viết rất ưa sử dụng những từ như , “giáo sư tiến sĩ”, “luật sư”, “bác sĩ”, “chuyên viên luật”, “nhà văn” “giám mục nước Pháp… đến thăm linh địa” (cứ bê Đức Mẹ vào chiếm đất là chỗ đó được hợp thức hóa làm linh địa), “bề trên”, “trí thức công giáo”, “nhà dân chủ”, “nhà nghiên cứu”,… nhằm đánh lạc hướng đầu óc của giáo dân ít học, bởi chỉ cần những danh xưng thở ra mùi “giáo dân” đó thôi là đủ có “sự thật” rồi, không cần phải kiểm chứng. Nhưng càng “bày” ra những danh xưng ấy, chứng tỏ họ đang rất chú ý đến hình ảnh bên ngoài. Bởi mượn vào những “uy tín” cá nhân giáo dân đó để cũng cố cho “sự thật” là ngụy biện, một điều tối kỵ trong tranh luận học thuật, cũng như trong việc tìm hiểu sự thật.

Ông Ngô Quang Kiệt khi phát động cầu nguyện đòi đất “Tòa Khâm sứ” đã quá chủ quan và không ngờ được rằng vì một sự hiếu thắng, muốn lấy điểm với Vatican của mình mà đã vô tình làm cho hình ảnh người Công giáo trở nên “vô pháp, vô thiên” đến như vậy. Đây là một tổn thất về hình ảnh lớn nhất của người Công giáo kể từ khi thống nhất Nam Bắc năm 1975, còn mấy cái vụ “đấu tranh dân chủ” của nhóm linh mục Nguyễn Văn Lý vốn chẳng đáng kể gì. Và điều ông Ngô Quang Kiệt không ngờ được rằng sau màn “lấy tĩnh chế động” của truyền thông nhà nước trước vụ “Tòa Khâm sứ”, thông tin thù địch từ ngoài nước và hầu hết các website Công giáo đã tưởng là nhà nước “bí” bèn giở trò “đối thoại” bằng cách miệt thị pháp luật, xuyên tạc và chửi rủa nhà nước Việt Nam tơi bời khói lửa. Nhưng sự “bộc lộ” sớm đó của họ là cần thiết để Nhà nước biết rõ rằng mình đang “nuôi” gì “trong tay áo”.

Tuy nhiên, không giống với vụ “Tòa khâm”, ở vụ Thái Hà, truyền thông nhà nước lại ra chiêu “lấy động chế động”, làm cho một cuộc chiến thông tin nổ ra, và đây cũng là điều cần thiết bởi chí ít nhà nước cũng hiểu thêm rằng những hành vi “cầu nguyện” ấy đã được các chủ chăn chính trị hóa tới mức nào khi bên ngoài họ đánh lừa “giáo dân” bằng cách cứ mở miệng ra là kêu gào “đối thoại” và “không chính trị hóa” vụ việc. Thật đáng buồn cười khi “chỉ là dân sự” mà lôi kéo cả Vatican, Mỹ và những nhóm truyền thông chống đối vào cuộc, rồi những linh mục quá khích của dòng Chúa Cứu thế còn gửi thư đi kêu gọi nước ngoài can thiệp. Nếu nói là “dân sự” thì chỉ cần mấy ông linh mục yêu cầu ra tòa giải quyết chứ cần gì phải ồn ào kéo giáo dân đến phá cổng, phá tường rào, bê tượng, cắm mốc thánh giá để chiếm đất, và việc gì phải kéo cả Chúa xuống mặt đất, lơ lửng trên tường rào để “làm chính trị” (tức là làm tấm bình phong bất khả xâm phạm cho chủ chăn). Nhưng xét về thực tiễn “giáo dân” mới là tấm bình phong thực sự chứ không phải ai khác, bởi đã có lúc Giám mục Puginier đã phát biểu: “Không có giáo dân Việt Nam hỗ trợ thì quân Pháp như con cua bị bẻ gẫy hết càng, không có cách nào có thể xâm chiếm nổi Việt Nam” (André Masson, The Transformation of Hanoi, 1873-1888, Madison, WI: Center for Southeast Asian Studies. University of Wisconsin-Madison, 1983, 51, NQT dịch).

Còn nếu tòa án có phán quyết về vụ kiện đó như thế nào thì cũng phải căn cứ trên những cơ sở pháp luật để giải quyết. Không phải cứ ai có đơn khiếu nại nộp lên là phải giải quyết, bởi đơn khiếu nại đó có phù hợp với hiến pháp và những quy định của pháp luật hay không, có phải là những đòi hỏi vô lối hay không. Thử hỏi nếu có một tòa án công bằng thực sự lương tâm (chứ không phải chỉ ở những giấy tờ đã hết hiệu lực khi chính thể cầm quyền thay đổi) thì những gì người Công giáo đã chiếm phá không ít chùa chiền Phật giáo có xứng đáng với những từ như “công lý và hòa bình” hay không? Tại sao nay kinh Hòa Bình lại được tụng và hát suốt ngày trước một mảnh đất mà có lúc cả lương tâm và “công lý và hòa bình” đều bị bỏ rơi. Phải chăng những “giáo dân” ấy đang khát ngưỡng “hòa bình” (thực chất là mong chế độ sụp đổ và không còn cái gai Phật giáo) đến mức không chịu nổi nữa rồi như thế. Đức Mẹ vẫn chưa ra “thông cáo” là trở lại Bắc sau khi bỏ vào Nam vậy mà mấy mảnh đất tại Hà Nội mà nhà nước giao cho người khác quản lý mấy chục năm nay rồi không hiểu sao bỗng dưng lại trở thành linh địa Đức Bà. Tại sao, những giáo dân ấy không tiện thể “mượn tay dắt trâu”, cắm mốc thánh giá vào tòa nhà Quốc hội và đưa ra bằng chứng lịch rằng, đây là di tích mà Giám mục Puginier hay giám mục chủ chăn gì gì đó khi xưa từng đặt chân đến và chỉ chỏ muốn lấy, dĩ nhiên không phải lấy cho riêng mình mà lấy theo ý chỉ của Chúa. Chẳng phải họ từng nói rằng vụ cầu nguyện “Tòa khâm” sẽ làm thay đổi cả chế độ, như những chiến binh "linh mục", "giáo dân" hùng hồn tuyên bố trên một số website Công giáo hay sao?

Tòa án hiện nay của nhà nước thì không thể xé luật mà để cho những giáo dân làm bừa được. Còn “tòa án lương tâm” thì vẫn còn treo lơ lửng trên đầu những người chủ chăn, điều đáng buồn là họ chưa một lần tỏ ra hối lỗi để “hiệp thông” với Giáo hoàng Giaon Phao-Lô II khi xưng 7 núi tội với nhân loại. Có nghĩa rằng, về quan điểm “chiếm đất thuộc địa” thì họ “hiệp thông” răm rắp với Vatican, sợ bị rút phép thông công, còn về lời hối lỗi chân thành khi gây ra những tội lỗi không thể bù đắp được thì họ lại “phản bội” ý chỉ của Vatican. Quả thực “Giáo hội” Việt Nam rất có “bản sắc”. Không nhiều “bản sắc” như vậy thì làm sao có thể là một “bàn đạp” để Vatican điều chỉnh chiến lược “mở rộng nước Chúa”, thực ra mở rộng chỉ là con bài “đánh chiếm” và “lật tung” cái gai Cộng Sản Việt Nam và Trung Quốc trong mắt thôi chứ “giáo dân” từ lâu đã vui vẻ và hiểu ngầm với nhau rằng Giáo hoàng đã dâng trái đất (hơn 6 tỉ người sinh sống, trong đó có hơn 1 tỷ người Công giáo) này cho Chúa từ lâu rồi.

Cũng vì lẽ đó mà những đất đai, chùa chiền của Phật giáo mất là chuyện hiển nhiên, là chuyện của quá khứ lịch sử, còn chuyện chiếm đất của người Công giáo là “quá khứ gần hơn” và tin chắc là do ý Chúa mách bảo vậy. Hỡi các danh xưng đầy “học hàm, học vị” của giáo dân qua bài viết về những vụ “cầu nguyện đòi đất”, xin quý vị hãy đọc những ý tứ (mượn lời người khác nói thay cho mình) của ông Nguyễn Văn Sang, một thành viên cầu nguyện với vẻ ngoài đạo mạo nhưng lại có thể mượn những lời như sau:

“Muốn chấm dứt việc người Công giáo cầu nguyện đòi tài sản mà không can dự đến Phật giáo, trước những viễn cảnh tồi tệ giả định, tại sao không xúc tiến giải pháp đơn giản hơn rất nhiều, là có bước đi pháp lý thích hợp và một ít thoả hiệp để giải quyết rốt ráo vấn đề? Nhà nước “mất” về tay các giáo phận một vài toà nhà hay khu đất mà trong quá khứ không lâu đã là của họ, chẳng tốt hơn là mất đi khối đoàn kết dân tộc và sự bình yên trước viễn cảnh xung đột tôn giáo sao? Về phía (những người lấy danh nghĩa) Phật giáo, đã mấy trăm nay (Chùa Báo Thiên từ năm 1883 và gần hơn nữa đến thời điểm 1945 mà cho là mấy trăm năm, quả tình rất “lưu manh” – Trung Ngôn) mất những chùa chiền nào đó, nay nếu tiếp tục “mất” thì có tăng thêm chút mất mát nào không, thay vì lại “tự nguyện” nhảy vào thế chân Nhà nước trong cuộc tranh chấp này, để mất đi cả căn tính vốn có của đạo Phật? Nếu những tài sản mà phía Công giáo chứng minh được sở hữu có về với họ, thì cũng chỉ là thêm cho một bộ phận con dân nước Việt được có được những cơ sở vật chất mới phục vụ cho đời sống tâm linh, cho việc giáo dục, giải trí, hay làm từ thiện…, không phải là điều Nhà nước ta cũng chủ trương hay sao? Và thêm một bộ phận chúng sanh có được niềm hoan hỉ như thế, nào có khác chăng với tinh thần nhà Phật?” (VietCatholic ngày 22/2/2008 – Lê Hữu Tuân).
Xin cảm tạ mọi người, đã kiên nhẫn đọc những dòng trên và xin tha thứ những gì sai phạm hoặc đụng chạm tới lòng tự ái của quí vị.”

Ông Nguyễn Văn Sang còn ra vẻ “trí thức” khi xin cảm tạ và xin tha thứ, nhưng ông ta có hiểu hay không thể hiểu cái “mất” ở đây không chỉ là mất một ngôi chùa hay một mảnh đất mà còn là nỗi nhục mất nước, mất chủ quyền dân tộc. Cái mất ấy gắn với bao nhiêu thống khổ và tang thương của dân tộc Việt Nam và của Phật giáo. Cái mất ấy có bù đắp được không khi lương tâm của người ta đã bị “dã thú ngoại xâm” và “đầu óc thực dân” cướp đi mất?

Thế nào gọi là chứng minh được sở hữu? Ở vài mảnh bằng khóan của chính quyền thực dân? Nói vậy thì miền Nam Việt Nam là của Ngô Đình Diệm rồi, có cả Mỹ, Pháp làm chứng đấy sao hậu duệ… không về mà đòi đất đi. Nói vậy thì Campuchia là của Khơme đỏ rồi còn gì… Những thể chế đó mới chỉ sụp đổ từ những năm 1975, 1980 còn gần hơn nhiều cái mốc năm 1950, 1960 (đâu cần phải nói rằng đó là quá khứ không xa). Điều đó càng khiến người ta nghi ngờ về cái gọi là “con dân nước Việt”. Tôi trung không thờ hai chúa. Qua vụ các vụ cầu nguyện đòi đất, Đảng Cộng sản, Chính phủ, Nhà nước Việt Nam đều bị người Công giáo quá khích khắp nơi miệt thị, khinh thường, đặt mình ra ngoài pháp luật, trong khi đón rước những bộ phái quèn quèn của Vatican (ngoại quốc) thì họ đón còn hơn cả đón vua, không biết khi dùng từ “con dân nước Việt” họ có cảm thấy thoải mái với lương tâm hay không?

Thật dễ hiểu vì sao cái “pháp lý ngoại thuộc” còn ám ảnh chủ chăn nhiều như thế, bởi người chủ chăn mà lý luận kiểu “chẳng được đầu voi thì vẫn còn đuôi chuột” này, tức là “cố đấm ăn xôi” để vớt vát được phần nào thì vớt vát. Tuy nhiên, khi ông Nguyễn Văn Sang ngụy biện như vậy ông có đặt câu hỏi: Đạo Chúa bước vào Việt Nam từ hai bàn tay trắng, tuy nhiên “cơ ngơi” (đất đai, nhà thờ, tu viện, trường học…) có được lại không phải do hai bàn tay trắng ấy làm nên mà phần lớn do lợi dụng vào bàn tay xâm lược của thực dân bóc lột, cướp phá của dân tộc Việt Nam mà có. Vậy nay nếu nó có trở về với “hai bàn tay trắng” thì cũng có “mất” gì đâu mà “đòi”.

Cũng thưa thêm với ông Nguyễn Văn Sang, Phật giáo Lý – Trần và những vị vua Phật tử thuần thành, trước giặc Tống, giặc Nguyên – Mông xâm lược chưa từng để mất đất vì lý do để cho một bộ phận chúng sinh (giặc Tàu) có được niềm hoan hỷ. Thật lấy làm lạ khi tại sao “giáo dân” (để phân biệt với những giáo dân chân chính, biết suy nghĩ từ bài học quá khứ và ứng xử thích hợp trong hiện tại) đi chiếm đất của người khác mà có thể lấy làm “hoan hỷ” như vậy?

Bộ mặt thật của ông Nguyễn Văn Sang đã khiến cho tác giả Trần Minh Khoa phải nhắc ông ta nên thuộc nhiều hơn kinh Thánh qua bài “Cầu nguyện “đòi đất”: sự thật nào sẽ giải phóng các anh em?”: “Trong bài “Ai dùng gươm…” trên Chuacuuthe, ông Nguyễn Văn Sang có trích: “Hãy xỏ gươm vào vỏ, vì tất cả những ai cầm gươm sẽ chết vì gươm”. Nhưng không biết ông suy nghĩ sao về câu này trong kinh Thánh: “Hãy báo cho các nước biết: Hãy chuẩn bị chiến tranh; Hãy gọi dậy những trai tráng! Tất cả quân sĩ hãy tập họp lại và tiến lên! Đập lưỡi cày thành kiếm, và biến móc câu thành đao…” (Joel 3:9-10) ["Proclaim this among the nations: Prepare a war; rouse the mighty men! Let all the soldiers draw near, let them come up! Beat your plowshares into swords, And your pruning hooks into spears…].

Không biết chuẩn bị chiến tranh (chủ yếu là chiếm đất và phá di sản người khác) có chết vì chiến tranh không? Không biết ngoài những người được Vatican phong “tử vì đạo” có ai được phong “tử vì đất” không?”

Trở lại cuộc viếng thăm của Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ. Có thể nói, vấn đề dân chủ, nhân quyền, tôn giáo tuỳ thuộc nhiều vào ưu tiên trong chính sách đối ngoại của Mỹ và tuỳ vào những diễn biến, thiện chí hợp tác cụ thể trong quan hệ hai nước. Vấn đề nhân quyền, dân chủ, tôn giáo là vấn đề của mọi vấn đề, mọi quốc gia trong thời toàn cầu hóa, nên không quốc gia nào không “coi trọng” để tránh những gây hấn, can thiệp sâu vào nội bộ, thậm chí cấm vận kinh tế của các quốc gia lớn mạnh không có chung đường lối một cách không cần thiết. Tuy nhiên dân chủ phương Tây không phải là thước đo cho dân chủ phương Đông cũng như thích hợp với điều kiện, hoàn cảnh của mỗi nước.

Việt Nam đang thực thi đường lối ngoại giao cởi mở, đa dạng hóa, đa phương hóa cùng với những khẳng định nhất quán về độc lập tự chủ, toàn vẹn lãnh thổ, giữ vai trò, vị trí chiến lược đối với hòa bình và ổn định của khu vực. Đó là điều hết sức quan trọng. Điều đáng nói, trước bao nhiêu song bão dập dồn ấy, ở trong nước, một số thế lực đen tối lại âm mưu gây rối loạn bằng “cầu nguyện đòi đất” tại thủ đô Hà Nội. Thử hỏi ai đang gối cao đầu để ngủ và có nhiều thời gian để ca hát, hành lễ, cầu nguyện… trong khi tình hình lạm phát tăng cao, tình hình phức tạp tại Biển Đông đang cùng lúc hướng vào giới lãnh đạo Việt Nam?

Nếu muốn đối thoại thì hãy tránh xa sự “đục nước béo cò”, bằng không nó càng trở nên trơ trẽn trước con mắt của người dân Việt Nam. Người dân Việt Nam có đủ sự đoàn kết cần thiết, thậm chí gác lại hết ân oán quá khứ trước những cơn sóng gió, binh lửa ngoại xâm, chỉ có những người tự đặt mình ra ngoài sự phát triển, tồn vong của dân tộc để bám theo gót chân thực dân, đế quốc mới có thể có những hành động ngông cuồng, thách thức pháp luật, quay lưng lại với lợi ích chung như vậy, bất chấp cả lương tâm và đạo lý tương thân tương ái của người Việt.

“Cầu nguyện đòi đất” là một vấn đề của một trong cơn lũ quen thuộc chống Cộng, chống Chủ nghĩa xã hội nên cần phải có những biện pháp xử lý song hành vừa “lấy tĩnh chế động” vừa tăng cường thông tin rộng rãi, bởi vốn dĩ sự loạn động đó xuất phát từ những đòi hỏi vô lý và không được nhân dân tán đồng.

Nhà nước nên xem vụ “cầu nguyện đòi đất” đến nhanh còn hơn đến chậm, bởi từ đó nhận rõ những thực lực trong nước trước tình hình quốc tế phức tạp và những bất ổn trên biển Đông có thể xảy ra với Việt Nam, nhất là khi sự tranh chấp biển Đông chủ yếu từ dầu khí khi nguồn năng lượng thế giới đang cạn kiệt và khủng hoảng. Tranh chấp biển Đông mới là tình hình lớn. Đối với tình hình nhỏ (“cầu nguyện đòi đất”) trong nước cần phải được phân tích kỹ càng, thận trọng nhưng cương quyết về mặt chủ động thông tin. Bên cạnh là làm lành mạnh nền kinh tế và củng cố vững chắc hơn những giá trị văn hóa. Đẩy mạnh việc nâng tầm các hoạt động văn hóa, để xây dựng những giá trị thời đại mới tiếp nối với các giá trị có từ trong truyền thống ửng xử của dân tộc. Chấn chỉnh lại những họat động trong lĩnh vực quy hoạch đất, đặc biệt là đất đai tại các vùng nông thôn, để người dân tìm thấy lợi ích của mình trong đó, bằng không đó cũng là một mối nguy tiềm ẩn. Những điểm mà họ tấn công vào nhà nước như hình ảnh của một bộ phận quan chức tham nhũng cần phải được điều chỉnh gấp để củng cố niềm tin của nhân dân và làm trong sạch bộ máy chính quyền.

Nhà nước tránh bạo động là cần thiết, tuy nhiên, nếu đã dùng một trong những biện pháp xử lý bạo động như xịt hơi cay để giải tán đám “giáo dân” quá khích, coi thường pháp luật, lu loa là bị đàn áp thì cũng nên hiểu đó không phải là chuyện động trời ở các nước phương Tây, bởi biểu tình, bạo động, khủng bố ở họ như cơm bữa. Thậm chí ở những tình thế cụ thể, chính sách của liên bang còn ra lệnh cấm tụ tập đông người nơi công cộng.

Người dân Hà Nội, thậm chí cả nước đã tỏ ra chán ngấy trước hành động cầu nguyện với xà beng, kìm búa và lu loa gần một năm nay rồi. Vatican vẫn tiếp tục không bình luận gì, còn Mỹ thì thờ ơ trước hành vi ăn vạ bằng “cầu nguyện” (pháp luật Mỹ chắc chắn cũng chẳng giải quyết những chuyện “đòi đất” vô lý như vậy), họ đang dành thời gian để quan tâm đến việc khác lớn hơn trong phát triển quan hệ kinh tế và vị trí chiến lược trên biển Đông giữa hai bên. Rõ ràng hành vi cầu nguyện đòi đất của một bộ phận “giáo dân” là ích kỷ, vị kỷ chứ chẳng phải có thiện chí gì cho việc hoàn thiện nền dân chủ tại Việt Nam, một mục tiêu mà Đảng và Nhà nước Việt Nam đang tích cực theo đuổi. Chính vì vậy, khẩu hiệu vì “công lý và hòa bình” của “giáo dân” nghe có vẻ to tát nhưng là khẩu hiệu rỗng tuếch mang tính “gậy ông đập lưng ông nhiều” nhất đối với họ, bởi từ khi xuất hiện trên lãnh thổ Việt Nam mấy trăm năm nay, chưa bao giờ họ sử dụng khẩu hiệu ấy để kêu gọi hay thực thi công lý và hòa bình cho quê hương, cho đồng bào ruột thịt của mình.

Trung Ngôn
(xem lại bài: "Cầu nguyện "đòi đất": sự thật nào sẽ giải phóng các anh em?": http://huongsenviet.blogspot.com/2008/09/cu-nguyn-i-t-s-tht-no-s-gii-phng-cc-anh.html)

Thứ Tư, 10 tháng 9, 2008

CẦU NGUYỆN "ĐÒI ĐẤT": SỰ THẬT NÀO “SẼ GIẢI PHÓNG CÁC ANH EM”?


(NHÂN ĐỌC “PHÂN TÍCH PHÁP LUẬT VỀ SỰ KIỆN TẠI THÁI HÀ - HÀ NỘI”)

Bài viết “Phân tích pháp luật về sự kiện tại Thái Hà – Hà Nội” được đăng tải trên website của dòng Chúa Cứu thế, Vietcatholic, được nhiều trang nhà khác đăng lại, trong đó có chua thêm một lời trong kinh Thánh “Sự thật sẽ giải phóng anh em” (Ga 8,32) và được ký tên “Một giáo dân – Chuyên viên luật”. Chưa kể đến người gọi là “chuyên viên luật” kia đã thiếu chính danh như thế nào khi anh ta bàn về pháp luật lại không có một cái tên cho đàng hoàng, dù đó là tên bút danh. Vả lại cái từ “Một giáo dân” đi trước cụm từ “Chuyên viên luật” quả thực nghe không ổn chút nào khi người ta muốn tìm hiểu tính khách quan của sự thật.

Đọc kỹ bài viết trên tôi buộc phải nói rằng đây là một tay “chuyên viên” thuộc hàng “lách luật” có hạng, bởi việc anh ta không nói cụ thể về luật mà thường vòng vo đánh tráo khái niệm quanh một Thông tư hướng dẫn luật. Tôi xin lần lượt chỉ ra những mánh khóe sau của tay “chuyên viên luật” này, bởi y đã mượn cả danh xưng “giáo dân” để “cổ động” cho những người cầu nguyện bằng việc ban cho họ một chỗ bám vào cái “pháp lý” do chính y dựng lên, khi những hành vi trên của giáo dân đang bị cả xã hội lên án là hành vi chiếm phá, gây mất trật tự xã hội và làm bất ổn tình hình chính trị, tôn giáo tại Việt Nam.

“Chuyên viên luật” kia mở đầu bài viết của mình bằng 3 câu hỏi:

1. Khu nhà đất của Dòng Chúa Cứu Thế thì Linh mục Vũ Ngọc Bích lấy tư cách gì để ký bàn giao sang cho nhà nước quản lý?

Năm 1926, hai linh mục Hubert Cousineau và Eugène Larouche thuộc Dòng Chúa Cứu Thế (DCCT) ở Canada đã đến truyền giáo tại Việt Nam và năm 1928 hai ông này đã mua một khu đất thuộc ấp Thái Hà diện tích khoảng 60.000 m2.

Ngày 7-5-1929, Tu Viện Dòng Chúa Cứu Thế Hà Nội được chính thức thành lập tại đây. Sau đó, nhà thờ, nhà đệ tử, bệnh viện, trường học và các cơ sở khác cứ được xây dần thêm. Năm 1954, khi Cộng Sản tiếp thu miền Bắc theo Hiệp Định Genève ngày 20-7-1954, tu viện còn lại 5 thành viên. Năm 1960, hai linh mục bị trục xuất, hai tu sĩ bị tù và chết trong tù vì tội chống phá cách mạng, cả tu viện chỉ còn lại Linh mục Vũ Ngọc Bích (thông tin của Lữ Giang trên Vietcatholic).

Sau khi đất nước bị chia đôi vào năm 1954, tình hình ruộng đất ở miền Bắc đã có sự thay đổi rất lớn vì đã có hơn 1 triệu người di cư vào Nam (hầu hết là người theo đạo Công giáo) vì tin đồn Đức Mẹ đã bỏ vào Nam, bỏ lại toàn bộ điền sản, nên vào ngày 14-6-1955 Hồ Chí Minh lại ký một sắc lệnh về cải cách ruộng đất mới, ra lệnh tịch thu toàn bộ đất đai tài sản của phản động, Việt Gian, địa chủ, cường hào ác bá…, sắc lệnh này chủ yếu nhắm vào các cơ sở Công giáo.

Như thế, có còn không cái gọi là “Khu nhà đất của dòng Chúa Cứu thế”? Nói cho đúng là “khu nhà đất của một tu viện thuộc dòng chúa cứu thế” của hai ông linh mục Tây đã không còn. Vậy có giấy tờ nào mà hai ông linh mục Tây này giao cho các linh mục Việt Nam sau này, bởi theo quy định của Luật Cải cách ruộng đất (CCRĐ), điều 2 và 3 ghi: “- Tịch thu toàn bộ ruộng đất và tài sản của thực dân Pháp và của đế quốc xâm lược khác. - Đối với địa chủ Việt gian, phản động, cường hào gian ác, thì tuỳ tội nặng nhẹ mà tịch thu toàn bộ hoặc một phần ruộng đất, trâu bò, nông cụ, lương thực thừa, nhà cửa thừa và tài sản khác. Phần không tịch thu thì trưng thu” (một tu viện mà 2 linh mục bị trục xuất, 2 linh mục bị tù thì không biết xếp vào hàng Việt gian hay phản động). Hơn nữa, Sắc lệnh ngày 4-12-1953, điều 19 chỉ rõ: “-Trên nguyên tắc, sắc luật bãi bỏ quyền sở hữu đất đai của ngoại kiều”. Vậy thì khi hai ông linh mục kia không còn ở đó và không còn quyền sỡ hữu thì mấy linh mục người Việt kia được xem là may mắn khi chính sách của nhà nước đã để lại một phần đất cũng còn khá rộng cho họ sinh hoạt, đặc biệt khi chỉ còn mỗi một mình Linh mục Vũ Ngọc Bích.
Phần hai của câu hỏi: Linh mục Vũ Ngọc Bích lấy tư cách gì để ký bàn giao sang cho nhà nước quản lý?

Tôi không ngờ đây lại là câu hỏi của một người tự xưng là “Giáo dân – Chuyên viên luật” vì đây là câu hỏi thuộc loại vừa “vô ơn” đối với người đã mất, vừa không hiểu luật là gì. Nói là ký bàn giao cho đẹp mặt thôi chứ thực chất là ngôi nhà thờ này nằm trong diện cải tạo nhà cửa. Bởi Năm 1960, hai linh mục bị trục xuất, hai tu sĩ bị tù và chết trong tù vì tội chống phá cách mạng (Điều 20 Luật CCRĐ: Đối với địa chủ ngoại kiều hợp tác với địch hoặc là phản động, cường hào gian ác, thì tịch thu toàn bộ hoặc một phần ruộng đất và tài sản, tuỳ tội nặng nhẹ). Nếu tu viện chỉ còn lại một mình ông Vũ Ngọc Bích thì không ông ấy có quyền “ký bàn giao” thì ai? Không lẽ bảo hai ông linh mục ngoại quốc (người bỏ tiền ra mua của chính quyền thực dân cướp nước và bán nước) sống dậy ký? Thật “vô ơn”, bởi nếu không có ông linh mục Vũ Ngọc Bích thì toàn bộ khu đất sẽ trở thành đất vô chủ, nằm trong diện tịch thu, làm gì còn đến 3.905m2 nhà chính, 945m2 nhà phụ để mà giáo xứ hiện nay sinh hoạt.

2. Tại sao Linh mục Vũ Ngọc Bích lại phải ký bàn giao và tại sao nhà nước lại quản lý?

“Chuyên viên luật” mà đi hỏi câu ngớ ngẩn đến mức cứ y như là năm 2008 vẫn còn là những năm mà chính quyền thực dân đang hiện diện.

Luật CCRĐ được thông qua tại kỳ họp thứ 3 (năm 1953) là văn bản có ý nghĩa quan trọng nhằm xóa bỏ chế độ thực dân, phong kiến chiếm hữu ruộng đất, thực hiện chính sách “người cày có ruộng” và chế độ sở hữu ruộng đất của nông dân. 1953 nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ban hành sắc lệnh quy định lại những thành phần xã hội gồm : Ðịa Chủ là những người có từ 3 mẫu ta ruộng đất trở lên, Phú Nông có 3 mẫu ruộng và 1 con trâu, Trung Nông có 1 tới 3 mẫu ruộng và 1 con trâu, Bần Nông có ít ruộng đất và Bần Cố Nông là những tá điền không đất ruộng.

Vậy một người sỡ hữu 60.000m2 đất lúc đó tại Thái Hà theo sắc lệnh trên thì thuộc “loại”gì? (Chắc là loại đại địa chủ, bởi chính quyền thực dân Pháp quy định 1 mẫu dùng ở Bắc Bộ bằng 3.600 m2).

Sắc lệnh ngày 4-12-1953 nêu lên ý nghĩa và mục đích của cuộc CCRĐ lần nầy là "bãi bỏ toàn diện quyền sở hữu đất đai của "thực dân Pháp" và của tất cả những "đế quốc" khác, đồng thời thiết lập quy chế sở hữu đất đai của nông dân" (điều 1) -Toàn bộ đất đai của "thực dân Pháp", "Việt gian", "địa chủ phản động", và những "phú hộ ác ôn" đều bị tịch thu (điều 1). -Đất đai của những thành phần dân chủ tiến bộ, kháng chiến và hợp tác với VM sẽ được trưng dụng.Nhà nước sẽ bồi thường hằng năm khoảng 1,5% tài sản (điều 4). -Đối với những điền chủ lẫn tránh chính sách bằng cách sang, bán, chuyển nhượng đất đai sau cuộc CCRĐ lần thứ ba (20-4-1953), nhà nước xem đó là những hành động bất chính, sẽ trưng dụng đất đai và bồi thường bằng tín phiếu ngân hàng (điều 5). -Những trung nông đã mua những đất nầy sẽ phải bán lại cho những nông dân nghèo vô sản với giá phải chăng (điều 5). -Đặc biệt sắc lệnh này đã chấp nhận các cơ sở tôn giáo như chùa, nhà thờ, và các tổ đình làng xã nhưng chỉ được sử dụng một phần đất đai và phải tự cày cấy để mưu sinh (điều 10). -Trên nguyên tắc, sắc luật bãi bỏ quyền sở hữu đất đai của ngoại kiều (điều 19). -Tuy nhiên cũng có một số miễn trừ cho đất đai của những người ngoại quốc, đặc biệt cho người Trung Hoa vì họ được CHNDTH bảo trợ.

Vậy thì đất đai nói là của hai ông linh mục ngoại Hubert Cousineau và Eugène Larouche thuộc Dòng Chúa Cứu Thế (DCCT) ở Canada mua làm gì còn quyền sở hữu. Do đó những linh mục kế tiếp người Việt ở tại đây là ở phần đất thuộc sở hữu của nhà nước. Và với diện tích quá rộng còn hơn cả mức quy định sở hữu đất của địa chủ, thì sớm hay muộn cũng phải “bàn giao’ đúng với luật đất đai đã ban hành, nhưng do nó là cơ sở tôn giáo nên được giữ lại một phần để sử dụng.

3. Chính sách cải tạo nhà cửa từ năm 1960, và Linh mục Vũ Ngọc Bích ký bàn giao từ ngày 24-10-1961 làm sao lại "theo Thông tư 73/TTg ngày 7-7-1962" có sau một, hai năm được?

Chính sách cải tạo nhà cửa từ năm 1960 và linh mục Vũ Ngọc Bích ký bàn giao từ ngày 24-10-1961 không có gì mâu thuẫn trong quá trình thực hiện luật, bởi quá trình thực hiện luật có khi kéo dài cả chục năm, chẳng hạn luật CCRĐ ban hành từ năm 1953 nhưng phải mãi đến những năm 1960 mới cơ bản hoàn thành. Báo Hà Nội Mới qua bài “Thông tin của UBND TP Hà Nội về tình hình vi phạm pháp luật tại khu vực giáo xứ Thái Hà” có đưa ra văn bản bàn giao nhà đất của Linh mục Vũ Ngọc Bích, trong đó chú thích: “Biên bản bàn giao những diện tích và những bất động sản của nhà thờ Thái Hà giữa linh mục Vũ Ngọc Bích và Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Hà Nội ngày 27-5-1963” (mốc ngày 24-10-1961 và mốc 27-5-1963 khác nhau về mặt trông tin). Nếu theo mốc ngày 27-5-1963 thì theo Thông tư 73/TTg ngày 7-7-1962 mà chính quyền đưa ra là hợp lý. Mặt khác Thông tư 73/TTg là một văn bản hướng dẫn luật tiếp theo Thông tư số 61/TTg ngày 17-2-1961, cùng với các Nghị định số 19/CP và 20/CP của Hội đồng Chính phủ ban hành ngày 29-6-1960 và Nghị định 24/CP ban hành ngày 13-2-1961 về chính sách nhà nước thống nhất quản lý nhà cho thuê ở các thành phố, thị xã, cụ thể hóa đối với việc đất có liên quan đến tôn giáo, bởi đất cho thuê của các tôn giáo, các Hội dù diện tích cho thuê nhiều hay ít, đều do nhà nước trực tiếp quản lý.

“Chuyên viên luật” này chỉ biết bám vào Thông tư số 73/TTg mà quên luật CCRĐ và các thông tư, sắc lệnh, chỉ thị, nghị quyết thống nhất về quyền quản lý nhà nước về đất đai trước đó, cho nên mới tách thông tư hướng dẫn luật trên ra khỏi chính sách pháp luật chung về đất đai.

Chỉ thị số 200/CT-TW ngày 30-3 -1960 của Ban bí thư, Nghị quyết ngày 30-3-1960 của Hội đồng Chính phủ, (trong phiên họp Hội nghị Thường vụ của Hội đồng Chính phủ) các nghị định số 19/CP ngày 29-6-1960 của Hội đồng Chính phủ ban hành về việc cải tạo và quản lý đối với nhà cửa cho thuê của tư nhân ở các thành phố và thị xã, trung ương đã tiến hành đợt thí điểm cải tạo nhà đất cho thuê ở thị xã Hải Dương và hiện nay sắp mở rộng phong trào tới các địa phương khác.

Để thi hành chỉ thị và nghị quyết trên, công văn của Ban Cải tạo Công Thương nghiệp Tư doanh Trung ương ngày 25-8-1960 gửi các Ban Cải tạo khu, thành phố, tỉnh về một số biện pháp cụ thể trong khi tiến hành cải tạo và quản lý đối với cơ sở, nhà cửa cho thuê của các tôn giáo.

Công văn trên chỉ rõ:

“Trong khi tiến hành cải tạo ở Hải Dương cũng như trong khi điều tra tình hình ở các địa phương khác, thì tình hình chiếm hữu nhà cho thuê của các tôn giáo chiếm một tỷ lệ diện tích cho thuê khá lớn. Theo số liệu điều tra sơ bộ thì:
- Ở Hà Nội: các tôn giáo chiếm một diện tích cho thuê là 29.735 thước vuông với doanh thu hàng năm là 74.835 đồng.
- Ở Hải Phòng: Nhà chung chiếm trên 130 nhà với diện tích trên 60.000 thước vuông.
- Ở Nam Định: Nhà chung chiếm 38 nhà với diện tích cho thuê là 9.250 thước vuông và doanh thu hàng năm là 6.634 đồng v.v...

Về nguồn gốc chiếm hữu thì hầu hết số nhà cho thuê ấy đều chủ yếu xây dựng trên thế lực và uy quyền của đế quốc và phong kiến trước đây và phần nhỏ trên sự đóng góp và lễ lạt của tín đồ, nhất là trong Thiên chúa giáo. Từ lâu, những nhà cửa ấy đều cho thuê với tính chất kinh doanh của họ cũng biểu hiện nhiều mặt tiêu cực.

- Chỉ biết thu tiền nhà mà không chịu tu sửa nhà hư hỏng để đảm bảo an toàn cho người thuê ở;
- Tìm cách nâng giá nhà một cách quá đáng, giá cho thuê nhà của họ còn hết sức bất hợp lý;
- Dùng thủ đoạn cắt điện, nước hoặc nhiều hành động khó dễ khác nhằm đuổi người thuê đi, để nâng giá nhà;
- Việc sử dụng nhà ở cũng như việc bảo quản nhà còn nhiều bất hợp lý v. v...;
- Quan hệ thuê mượn giữa người thuê và người quản lý nhà cho thuê của các tôn giáo có nhiều mâu thuẫn làm ảnh hưởng không tốt đến việc đoàn kết trong nội bộ nhân dân, vì quần chúng thuê nhà của các tôn giáo chỉ có một số ít là giáo dân, còn phần đông là những người không theo một tôn giáo nào, nên mỗi lần có sự va chạm về kinh tế thì đồng thời cũng có ảnh hưởng ít nhiều đến vấn đề đoàn kết giáo lương.

Đối với số nhà cửa cho thuê ấy, quần chúng giáo dân, nhất là quần chúng theo đạo Thiên chúa, hiện nay vẫn chưa nhận ra được tính chất bóc lột và thủ đoạn kinh doanh xấu xa, trái lại, họ còn quan niệm rằng những nhà cửa cho thuê ấy là tài sản thiêng liêng của đạo giáo họ.

Đợt thí điểm ở Hải Dương cũng đã chứng minh rõ những điểm trên. Sắp tới, khi mở rộng phong trào đến các địa phương có nhiều nhà cho thuê của các tôn giáo thì tình hình sẽ có những diễn biến phức tạp, chúng ta cần có những biện pháp thận trọng và tốt hơn, nhằm đạt được mục đích yêu cầu là cải tạo quan hệ thuê mượn nhà cửa tư nhân hiện nay”.

Công văn ngày 25-8-1960 còn đề ra những biện pháp cụ thể:

“1. Căn cứ vào đường lối, phương châm chính sách của Trung ương, thái độ của chúng ta đối với nhà cửa cho thuê của các tôn giáo về nguyên tắc là cũng phải áp dụng chính sách cải tạo như đối với tư nhân có cho thuê khác. Nếu những nhà cửa cho thuê đủ khỏi điểm cải tạo thì cải thạo (theo nghị định số 19/CP); nếu chưa đủ khởi điểm cải tạo thì để họ tiếp tục tư quản lý dưới sự giám đốc của Nhà nước (theo nghị định số 20/CP).

Song, vì đặc điểm tình hình giáo dân nói trên và do vấn đề này thường dễ có liên quan đến chính sách đối với tôn giáo của Đảng và Chính phủ và hình thức đấu tranh thích hợp nhằm thực hiện được phương châm; Làm tốt về chính trị và kinh tế, chú trọng về mặt chính trị.

Cụ thể là về mặt kinh tế phải xoá bỏ quan hệ thuê mượn bóc lột, xây dựng quan hệ thuê mượn mới về cho thuê nhà. Không có gì khác với mục đích, yêu cầu chung. Nhưng về mặt chính trị thì phải chú trọng đến sự tranh thủ quần chúng giáo dân hưởng ứng và tham gia thực hiện chính sách cải tạo được tốt, nhất là đối với những người giáo dân thuê nhà của nhà chung, nhà chùa. Trên cơ sở đó, thuyết phục tranh thủ những người quản lý nhà cho thuê của nhà chung, nhà chùa chấp hành chính sách của Đảng và Chính phủ. Trước mắt là họ giao nhà cho thuê qua: Nhà nước quản lý và sử dụng, Nhà nước sẽ để lại cho nhà chung, nhà chùa được tiếp tục hưởng một số tiền thuê như nghị định của Chính phủ đã ban hành (từ 15% đến 50% số tiền thuê). Số tiền còn lại Nhà nước sẽ sử dụng vào mục đích tu sửa nhà nhằm bảo đảm an toàn cho người thuê ở và làm cho chất lượng nhà cửa được tốt hơn trước, kéo dài được thời gian sử dụng.

Đối với một số ít phần tử ngoan cố chống đối cải tạo, ta cần tranh thủ giáo dân và số đông trong những người quản lý để đấu tranh với chúng, nhất là phải vạch trần những luận điệu tuyên truyền xuyên tạc của chúng và thái độ đối với chính sách của chúng, tiếp đó nếu xết cần thiết thì có biện pháp xử lý khác, sau khi đã thỉnh thị kỹ cấp uỷ trên (thông qua các Ban cải tạo).

2. Về phương pháp, ở những nơi nào nhà cho thuê của các tôn giáo, nói chung, chúng ta không tiến hành cải tạo cùng một lúc với đợt cải tạo nhà cửa cho thuê của tư nhân khác. Có thể tiến hành một đợt riêng và như vậy thì thời gian nên đặt sau khi đợt cải tạo chung đã kết thúc, để ta có điều kiện tập trung chỉ đạo, tập trung cán bộ và thời gian làm cho tốt. Trong đợt này Ban cải tạo cần phải phối hợp với Ban Tôn giáo vận địa phương một cách chặt chẽ, yêu cầu cán bộ Tôn giáo vận trực tiếp tham gia công tác giáo dục quần chúng giáo dân và công tác thuyết phục tranh thủ người quản lý nhà cho thuê của các tôn giáo.

Trong việc tổ chức học tập chính sách, ta không nên triệu tập những người quản lý nhà cho thuê của nhà chung, nhà chùa đến dự học chung với các chủ nhà khác, mà chỉ cần chính quyền triệu tập riêng họ đến để phổ biến cách nghị định của Chính phủ và trách nhiệm họ phải thi hành. Sau đó, Mặt trận cần gặp gỡ riêng những người có trách nhiệm trong Ban quản lý hoặc những người đại diện và những người linh mục tốt để giáo dục tranh thủ họ tích cực thi hành nghị định và làm đơn xin giao nhà qua Nhà nước quản lý và sử dụng, đồng thời họ xin mức hưởng tỷ lệ tiền thu thuê nhà.

3. Đối với quần chúng thuê nhà của các tôn giáo thì nên tổ chức họ thành những tổ học tập riêng. Nội dung học tập cần làm cho họ hiểu rõ tinh thần của các nghị định của Chính phủ, hiểu rõ quyền lợi và nghĩa vụ của người đi thuê nhà để tích cực chấp hành pháp luật của Nhà nước, hiểu rõ những xấu xa của quan hệ thuê mượn bóc lột hiện nay và sự cần thiết phải giao nhà cửa cho thuê để Nhà nước quản lý cho thuê, sửa chữa, phân phối và sử dụng. Về thời gian học tập thì tuỳ địa phương ấn định cho sát, nhưng nên thu xếp ngoài những giờ đi lễ của đồng bào Thiên Chúa giáo.

Trên đây là mấy ý kiến sơ bộ, trong khi tiến hành cải tạo, chúng ta cần có sự tập trung chỉ đạo đúng mức, đồng thời chú trọng phát hiện sớm những vấn đề cụ thể khác để kịp thời bàn bạc giải quyết đầy đủ hơn”.

“Chuyên viên luật” kia chỉ bám vào thông tin của Thông tư 73/TTG, phủ định các thông tư, nghị định, luật đất đai khác của chính phủ, và chỉ nhằm vào khái niệm “đất cho thuê” (bỏ qua khái niệm đất cho sử dụng nhờ, vì lúc đó để lách luật, người ta thường sử dụng diện tích của mình để cho thuê, ngầm cho thuê, cho sử dụng nhờ, cho mượn như “Tòa Khâm sứ”), nên mới cho rằng: “Như vậy, có thể thấy rõ nếu khu đất của Dòng Chúa Cứu Thế không cho thuê, không cho người khác sử dụng nhờ thì không thuộc đối tượng quản lý theo quy định tại Thông tư số 73/TTG ngày 7/7/1962 của Phủ thủ tướng như Ông Phó Chủ tịch UBND TP. Hà Nội nói được. Và ngay cả có cho thuê thì nhà nước cũng tiếp tục cho người đang sử dụng tiếp tục được sử dụng..., chứ không bắt ký bàn giao để chuyển sang cho người khác”.

Nên biết “đối tượng mà nhà nước quản lý” không chỉ nằm ở một Thông tư 73/TTG. Tuy nhiên, khi trích dẫn Thông tư số 73/TTG, “chuyên viên luật” này đã bỏ qua Thông tư số 10/TTG ngày 4-2-1963. Thông tư này nhằm giải thích Thông tư số 73/TTG ngày 7-7-1962 trong đó nêu rõ sự cần thiết nhà nước phải quản lý toàn bộ đất ở nội thành, nội thị:

“1. Chuyển quyền sở hữu về đất cho thuê của tư nhân (kể cả bất động sản trên mặt đất như ao, hồ, cây ăn quả lưu niên, cây cổ thụ, giếng nước và các di tích lịch sử) thành quyền sở hữu của toàn dân do Nhà nước trực tiếp quản lý, phân phối và sử dụng.

2. Chấm dứt tình trạng chiếm hữu bất hợp pháp của tư nhân về các loại đất công (kể cả đất sa bồi), đất vắng chủ và sử dụng hợp lý các loại đất bỏ hoang.

3. Tất cả các loại đất nói ở trên (kể cả bất động sản có trên mặt đất) đều do Nhà nước trực tiếp quản lý không phải bồi hoàn tiền cho các chủ có đất. Những người hiện đang sử dụng đất hợp lý đều được phép tiếp tục sử dụng, không phải trả tiền thuế đất mà chỉ phải đóng thuế thổ trạch hoặc thuế nông nghiệp”.

Trong Thông tư này khái niệm “đất cho thuê” được hiểu là bao gồm “kể cả bất động sản trên mặt đất như ao, hồ, cây ăn quả lưu niên, cây cổ thụ, giếng nước và các di tích lịch sử”.

Đối với các hội hè, tôn giáo Thông tư này ghi rất rõ:

“Tất cả các hội hè, tôn giáo có đất cho thuê, đất cho người khác sử dụng nhờ sau đây, dù diện tích ấy nhiều hay ít (kể cả bất động sản trên mặt đất) đều do Nhà nước trực tiếp quản lý và không bồi hoàn cho họ một khoản tiền nào:
- Của các đình, đền, phe giáp, bản làng...
- Của các tổ chức tư nhân và hội hè khác.
- Của các tổ chức Thiên chúa giáo, Phật giáo và các tôn giáo khác.
Riêng đất cho thuê, cho sử dụng nhờ của các tổ chức tôn giáo thì chúng ta cần chú ý làm tốt về mặt chính trị, cho nên tuỳ từng trường hợp của từng loại đất cho thuê của họ mà giải quyết như sau:
Đất cho thuê, cho sử dụng nhờ thuộc phạm vi ngoại tự thì Nhà nước quản lý theo chính sách.

Đất cho thuê, cho sử dụng nhờ thuộc phạm vi nội tự thì Nhà nước không quản lý đất này, nhưng Nhà nước xoá bỏ quan hệ thuê mượn đối với đất đó, người chủ đất không được thu tiền thuê đất nữa. Nhà nước chỉ cho phép người nào hiện đang sử dụng đất đó được tiếp tục sử dụng và đóng thuế. Mặt khác, nếu người sử dụng đất đó là người tín đồ muốn giúp đỡ cho nhà thờ, nhà chùa là tuỳ thuộc họ.

Ruộng đất nào trước đây, trong cải cách ruộng đất, có để lại cho nhà thờ, nhà chùa để dùng trong việc thờ cúng và cho những người tu hành có điều kiện sinh sống để làm việc tôn giáo mà nay họ đem cho thuê thì: nếu những người thuê đất này là xã viên hợp tác xã thì nên vận động họ đưa ruộng đất đó vào hợp tác xã; nếu người thuê đất đó không phải là xã viên hợp tác xã thì Nhà nước quản lý đất này và cho phép người đang sử dụng đất được tiếp tục sử dụng và đóng thuế.

Trong khi thực hiện quản lý đất cho thuê của các tổ chức tôn giáo thì cần chú ý: những người tu hành chuyên nghiệp mà hiện nay già yếu mất sức lao động, nguồn sống chỉ dựa vào tiền cho thuê đất thì Nhà nước tạm hoãn quản lý đất cho thuê của họ. Nếu trường hợp đất cho thuê của họ quá nhiều thì chỉ hoãn cho họ một số diện tích đất đủ cho việc thờ cúng và cho người tu hành già yếu này có điều kiện sinh sống để làm việc tôn giáo. Mức ruộng đất để lại bao nhiêu do Uỷ ban hành chính khu, thành, tỉnh xét và quyết định”.

Thông tư số 10/TTG ngày 4-2-1963, ở mục cuối cùng quy định đối với những người hiện đang sử dụng đất:

“Sau khi Nhà nước đã trực tiếp quản lý đất thì đối với những người hiện đang sử dụng các loại đất nói ở Thông tư này, Uỷ ban hành chính các khu, thành phố, tỉnh sẽ xét việc sử dụng đất của họ có hợp lý hay không để cấp giấy phép sử dụng cho họ. Nhà nước sẽ lấy lại đất đó mỗi khi cần dùng cho công cuộc xây dựng các lợi ích công cộng trong thành phố. Tuyệt đối không ai được dùng đất này để làm phương tiện cầm cố, mua bán, chuyển nhượng cho người thứ hai, bất cứ lý do nào.
Nếu trên mặt đất có những bất động sản như: ao, hồ, cây ăn quả lưu niên, cây cổ thụ, giếng nước và các di tích lịch sử... thì người hiện đang sử dụng đất phải có trách nhiệm bảo vệ. Tuyệt đối không được tự ý phá huỷ, Uỷ ban hành chính các khu, thành phố, tỉnh cần có nội quy bảo vệ những bất động sản này. Đối với những bất động sản như cây cối, giếng nước, hoa màu... có trên mặt đất ấy là của những người hiện đang sử dụng đất ấy tự lao động làm ra thì họ có quyền hưởng hoàn toàn hoa lợi, lúc cần cho việc xây dựng cơ bản mà những bất động sản đó cần phá đi thì Nhà nước sẽ bồi thường cho họ theo tinh thần Nghị định số 151/TTg ngày 14-4-1959 của Thủ tướng Chính phủ. Nếu những bất động sản có trên mặt đất không phải của người hiện đang sử dụng đất ấy làm ra thì do cơ quan quản lý nhà, đất các địa phương trực tiếp quản lý và thu hoa lợi nếu có.

Trên đây là những điều giải thích và hướng dẫn cụ thể trong khi thực hiện chính sách quản lý đất. Phủ Thủ tướng nhắc các Uỷ ban hành chính khu, thành phố, tỉnh cần lãnh đạo chặt chẽ công tác này và cần dựa vào Thông tư này mà đặt ra các biện pháp tiến hành cho tốt, cố gắng hoàn thành trong quý I năm 1963. Trong khi thực hiện, nếu có vấn đề gì mới hoặc mắc mứu thì các địa phương cần báo cáo về Phủ Thủ tướng giải quyết”.

Thử hỏi với bao nhiêu chính sách về quản lý, trưng thu đất đai như vậy mà lại để một mình Linh mục Vũ Ngọc Bích sử dụng trọn 60.000 m2 đất có hợp lý không? Một người bình thường cũng thấy nó mâu thuẫn với Thông tư trên: “chỉ hoãn cho họ một số diện tích đất đủ cho việc thờ cúng và cho người tu hành già yếu này có điều kiện sinh sống để làm việc tôn giáo”. Diện tích (đất nội tự) nhà thờ Thái Hà hiện đang có (3.905m2 nhà chính, 945m2 nhà phụ) rất phù hợp với chính sách này vậy. Trên 60.000 m2 ấy lần lượt sau đó, nhà thờ, nhà đệ tử, bệnh viện, trường học và các cơ sở khác cứ được xây dần thêm (không riêng gì phần đất của Công ty may Chiến Thắng hiện nay, bởi những cơ sở xây dựng ở những phần đất còn lại (trước khi nhà nước bàn giao cho Công ty may chiến thắng) thuộc đất ngoại tự (có phần đất nào nhà thờ đã từng chuyển nhượng, cho thuê, cho mượn trước đó hay không thì đều thuộc diện quản lý nhà nước theo chính sách).

Hơn nữa, ở vụ việc “cầu nguyện đòi đất” ở Thái Hà này, “chuyên viên luật” kia ra sức phủ định đất tu viện dòng Chúa Cứu thế khi trước không cho thuê, cho mượn “và ngay cả có cho thuê thì nhà nước cũng tiếp tục cho người đang sử dụng tiếp tục được sử dụng..., chứ không bắt ký bàn giao để chuyển sang cho người khác”. Đúng là Nhà nước vẫn cho người đang sử dụng được tiếp tục sử dụng, nhưng không phải không vận động bàn giao lại đất cho nhà nước quản lý vì đất đó quá rộng, chỉ để lại “một số diện tích đất đủ cho việc thờ cúng và cho người tu hành già yếu này có điều kiện sinh sống để làm việc tôn giáo. Mức ruộng đất để lại bao nhiêu do Uỷ ban hành chính khu, thành, tỉnh xét và quyết định”.

Không biết “chuyên viên luật” này khi phủ định việc nhà thờ không “cho thuê đất”, “cho người khác sử dụng nhờ” (tức mượn) để tự đặt nhà thờ ra khỏi phạm vi của chính sách ấy có nghĩ đến sự mâu thuẫn trong vụ đòi đất “Tòa Khâm sứ” hay không? Bởi trong vụ Tòa Khâm sứ, ông Ngô Quang Kiệt rất nhiều lần nói rằng “Tòa Khâm sứ” là phần đất mà nhà thờ cho Khâm sứ mượn (đất cho người khác sử dụng nhờ). Vậy phải chăng nhà nước quản lý “Tòa Khâm sứ” là rất đúng với chính sách đất đai? Trong khi Luật CCRĐ, Điều 10 ghi rõ: “Ruộng đất của tôn giáo (Nhà Chung, nhà chùa, thánh thất, tu viên, v.v...) thì trưng thu và trưng mua”. Điều 19: “Về nguyên tắc, ngoại kiều không có quyền chiếm hữu ruộng đất ở Việt Nam”. Điều 20: “Đối với địa chủ ngoại kiều hợp tác với địch hoặc là phản động, cường hào gian ác, thì tịch thu toàn bộ hoặc một phần ruộng đất và tài sản, tuỳ tội nặng nhẹ”.

Vậy cả vụ “Tòa Khâm sứ” và vụ “Thái Hà”, giáo dân cầu nguyện đòi đất cho ai? Cho vị Khâm sứ bị trục xuất khỏi Việt Nam hay cho hai vị linh mục người Canada đã mua đất của chính quyền thực dân? Hay chỉ vì hai ông linh mục ấy thuộc dòng Chúa Cứu thế nên những người giáo dân dòng Chúa Cứu thế Việt Nam hiện nay ra sức “nhận họ hàng” và để đòi quyền sở hữu phần đất thời thuộc địa (mà nhà nước đã tái bố trí, phân chia khi chế độ, chính sách đã thay đổi kể từ khi nước Việt Nam giành độc lập năm 1945, đặc biệt khi Luật CCRĐ ra đời năm 1953, nhằm thực hiện chủ trương người cày có ruộng).

Nhận xét về Công giáo Việt Nam, trước đó, vào tháng 7 năm 1924, tại Đại hội V Cộng sản Quốc tế, Nguyễn Ái Quốc đã từng lên tiếng cảnh cáo chủ nghĩa thực dân bóc lột và vai trò của Giáo Hội trong chuyện này: “Chỉ một mình Nhà Chung Công Giáo mà chiếm hết một phần tư đất trồng trọt ở Nam Kỳ. Phương thế chiếm hữu các đất đai đó rất là đơn giản: Dùng tham nhũng, hối lộ và cưỡng ép. Đây là một vài ví dụ rõ ràng. Nhà Chung lợi dụng khi mất mùa để cho nông dân vay tiền. Tiền lời cho vay rất nặng, nên con nợ sẽ không thanh toán nổi khi tới ngày trả, và như thế là đất cầm trở thành đất Nhà Chung. Giáo Hội không từ một việc nào để nắm những giấy tờ hệ lụy bí mật và nhờ đó dọa dẫm các quan chức, bắt họ phải làm theo ý mình muốn. Giáo Hội cũng liên minh với những tay tài phiệt để khai thác các vùng đất nhượng cho không và những thửa ruộng cướp được của nông dân. Giáo Hội có người của mình nắm giữ những vai trò thế giá trong chính quyền thuộc địa…”.

Phải chăng khi “cầu nguyện đòi đất” họ đang tự cho phép đặt mình ra khỏi pháp luật Việt Nam và muốn tái lập cái hình ảnh đầy tham lam và bất công thời thuộc địa? Đặc biệt là việc hủy hoại, chiếm phá không biết bao nhiêu ngôi chùa Phật giáo trên khắp mọi miền đất nước mà chính các giáo sĩ và giáo dân là linh hồn của các cuộc chiến chiếm đất.

“Chuyên viên luật” này viết tiếp: “Nếu việc ký bàn giao (nếu có) của LM Vũ Ngọc Bích không phải là để nhà nước quản lý theo chính sách nhà-đất cho thuê thì việc ký bàn giao hay "hiến", "cho" là quan hệ giao dịch dân sự. Căn cứ Sắc lệnh số 85-SL ngày 29/2/1952 của Phủ Chủ tịch nước VNDCCH (5) thì việc cho nhà cửa, ruộng đất bắt buộc phải trước bạ rồi mới được sang tên trong địa bộ và sổ thuế (Điều 1). Trước khi đem trước bạ, văn tự phải đưa Ủy ban Kháng chiến hành chính xã hay thị xã nhận thực chữ ký của người cho là chủ sở hữu của nhà cửa, ruộng đất đem cho (Điều 3).

Khi tranh cãi ở phần đầu thì “chuyên viên luật” này thắc mắc “Linh mục Vũ Ngọc Bích ký bàn giao từ ngày 24-10-1961 làm sao lại "theo Thông tư 73/TTg ngày 7-7-1962"?”. Nhưng nói đến việc bàn giao (nếu có - tức không biết là có hay không, trong khi chính quyền đã công bố biên bản bàn giao đất) của linh mục Vũ Ngọc Bích thì “chuyên viên luật” này lại lấy sắc lệnh 85-SL ngày 29/2/1952 (quá cũ và chưa hoàn chỉnh với những sắc lệnh, nghị định, thông tư ở thời điểm hiện tại lúc đó), trong khi Luật CCRĐ (bộ luật đất đai đầu tiên của chính phủ Việt Nam DCCH) được Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thông qua trong Khoá họp lần thứ III ngày 4 tháng 12 năm 1953 lại bị bỏ qua. Hơn nữa như trên đã dẫn, sắc lệnh ngày 4-12-1953, trong điều 10 có chấp nhận các cơ sở tôn giáo như chùa, nhà thờ, và các tổ đình làng xã nhưng chỉ được sử dụng một phần đất đai và phải tự cày cấy để mưu sinh.

Còn phần “chuyên viên luật” này viết “Về khởi tố vụ án hình sự tội hủy hoại tài sản hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản theo Điều 143 BLHS và tội gây rối trật tự công cộng theo Điều 245 BLHS” để biện hộ cho hành vi quá khích phá cổng, phá tường rào, cắm mốc thánh giá, đưa tượng Đức Mẹ vào chếim đất của giáo dân, tôi xin miễn bình luận. Vì cơ bản đây là một bài viết lươn lẹo, cố tình chạy tội để hợp thức hóa những hành vi chiếm đất đai. Tôi không hiểu qua bài viết của “chuyên viên luật” này, “sự thật nào sẽ giải phóng các anh em”? hay chỉ là một màn “vải thưa che mắt thánh” bằng một giả danh “chuyên viên luật” nhằm đánh lạc hướng dư luận, tiếp tục đẩy những giáo dân ấy vào con đường cuồng tín tôn giáo, cuồng vọng đất đai.

Trong bài “Ai dùng gươm…” trên Chuacuuthe, ông Nguyễn Văn Sang có trích: “Hãy xỏ gươm vào vỏ, vì tất cả những ai cầm gươm sẽ chết vì gươm”. Nhưng không biết ông suy nghĩ sao về câu này: “Hãy báo cho các nước biết: Hãy chuẩn bị chiến tranh; Hãy gọi dậy những trai tráng! Tất cả quân sĩ hãy tập họp lại và tiến lên! Đập lưỡi cày thành kiếm, và biến móc câu thành đao” (Joel 3:9-10) ["Proclaim this among the nations: Prepare a war; rouse the mighty men! Let all the soldiers draw near, let them come up! Beat your plowshares into swords, And your pruning hooks into spears]. Không biết chuẩn bị chiến tranh (chủ yếu là chiếm đất và phá di sản người khác) có chết vì chiến tranh không? Không biết ngoài những người được Vatican phong “tử vì đạo” có ai được phong “tử vì đất” không?

Trần Minh Khoa

Chú thích:
Các luật, sắc lệnh, nghị định, thông tư, công văn đã nêu trong bài viết, người đọc chỉ cần vào công cụ tìm kiếm tại google.com gõ từ khóa cho chính xác là có thể tham khảo được đầy đủ, và được thấy những lý giải khác nhau từ nhiều phía. Thậm chí có nhiều thông tin liên quan đến những chính sách về tịch thu, truất hữu, phân chia, bồi thường đất đai trong Cải cách điền địa của Ngô Đình Diệm (Chính phủ Công giáo) như một sự tương chiếu với CCRĐ ở miền Bắc. Ai là người hưởng lợi trực tiếp từ những chính sách của giáo dân Ngô Đình Diệm?
Cần nói thêm, chính sách CCRĐ ở miền Bắc cơ bản đã giải quyết được vấn đề “người cày có ruộng”, nhưng trong quá trình thực hiện chính sách, việc quy định thành phần, đảng tịch, quy phần trăm địa chủ trên tổng số dân tại các địa phương đã gây ra những hậu quả nghiêm trọng, tạo nên những oan sai và sự trả thù của những người được minh oan sau khi nhà nước sửa sai. Tuy nhiên khi nhà nước sửa sai chỉ quy định lại thành phần, đảng tịch và bồi thường phần nào cho những người oan sai, thân nhân của những người oan sai chứ không có chuyện trả lại những ruộng đất đã thu hồi trong chính sách CCRĐ.


Thứ Ba, 9 tháng 9, 2008

HÀN QUỐC: TỔNG THỐNG LEE CHÍNH THỨC XIN LỖI PHẬT GIÁO


Sáng nay, thứ Ba ngày 9-9-2008, Tổng thống Lee Myung-bak đã chính thức xin lỗi vì sự thiên vị tôn giáo chống lại Phật giáo trong sự quản trị của ông ta, và chỉ đạo tất cả các quan chức giữ quan điểm trung lập về tôn giáo.

“Vài quan chức gần đây đã đưa ra những phát biểu và biểu lộ hành vi có thể làm nguyên nhân đưa đến sự hiểu lầm đối với sự thiên vị tôn giáo, và tôi xin bày tỏ sự hối hận sâu sắc về những phát biểu và các hành động ấy vì họ chính là nguyên nhân gây nên mối quan tâm của cộng đồng Phật giáo”, bản tin Yonhap News đã trích nguyên văn lời nói của Lee tại phiên họp Nội các hàng tuần.

“Tất cả các bộ trưởng trong Nội các, đặc biệt là bộ trưởng văn hóa, thể thao và du lịch, phải theo dõi chặt chẽ và giáo dục các quan chức ngăn ngừa tái diễn các sự cố tương tựa”.

Tổng thống Lee, - trưởng lão của một giáo hội Cơ đốc giáo địa phương, - nói: “Sự cố gần đây nhất giúp khai phát con đường hướng đến hòa giải và khoan dung giữa tôn giáo và các tổ chức xã hội của đất nước”.

Phát biểu của Lee cho thấy, đúng như những gì Tăng Ni, Phật tử Hàn Quốc đã bất bình bởi cái mà họ hiểu là sự thiên vị Cơ đốc giáo trong quản lý của Lee.

Sự quản lý của Lee gần đây đã bị ngọn lửa bất bình của Phật giáo thiêu đốt, vì một loạt các sự cố mà từ đó, nó phơi bày sự thiên vị tôn giáo như: bổ nhiệm các tín đồ Cơ đốc giáo giữ các vị trí then chốt của chính phủ, sự loại bỏ các tự viện chính yếu ra khỏi bản đồ trên Internet của chính phủ, việc cảnh sát mới đây khám xét xe của vị lãnh đạo Phật giáo cao cấp.

Sau cuộc biểu tình khổng lồ chống chính phủ ở trung tâm thủ đô Seoul vào cuối tháng 8, giới lãnh đạo Phật giáo cảnh báo sẽ tiếp tục các cuộc biểu tình trên toàn quốc vào cuối tháng này, nếu bản thân Lee không xin lỗi và cách chức giám đốc nha cảnh sát, người đã để xảy ra sự cố khám xe.

Suốt phiên họp Nội các, Lee không đề cập đến yêu sách của Phật tử là cách chức Eo Cheong-soo, giám đốc Nha Cảnh sát Quốc gia.

Thay vào đó, Thủ tưởng chỉ thị Eo đến chùa Jogye, - tổ đình của một tông phái Phật giáo lớn nhất nước, - ngỏ lời xin lỗi Hòa thượng Chủ tịch Hội đồng Điều hành Jikwan vì sự cố kiểm tra xe vào cuối tháng 7.

Sự khám xe chưa từng có trước đó ấy xảy ra khi cảnh sát truy bắt một nhóm các nhà hoạt động chống chính phủ đang trốn trong chùa.

“Bỏ qua các động cơ đằng sau sự khám xét đó, giám đốc nha cảnh sát phải đến bái yết giới lãnh đạo Phật giáo và ngỏ lời xin lỗi. Ông ta cũng phải hứa ngăn ngừa tái diễn các sự cố tương tựa”, trích nguyên văn câu nói của Lee.

Trong diễn tiến có liên quan, phiên họp Nội các nhất trí sửa đổi bộ luật công chức, vốn sẽ nghiêm cấm tất cả các quan chức chính phủ có thái độ kỳ thị chống lại bất cứ tôn giáo cụ thể nào trong quá trình thi hành nhiệm vụ.

Thích Minh Trí biên dịch (Theo Thời báo Korean)

Thứ Sáu, 5 tháng 9, 2008

CẦU NGUYỆN “ĐÒI ĐẤT”: MỘT KIỂU “ĐỐI THOẠI” BẰNG LUẬT RỪNG


Ông Ngô Quang Kiệt trong mấy ngày qua lại “hăng say” phát biểu rằng: “Nhà nước cần giải quyết ngay vụ Tòa Khâm sứ vì nếu vụ này bế tắc, vụ Thái Hà cũng sẽ không tháo gỡ được” (BBC). Phát biểu trên đã lộ rõ ý đồ “cầu nguyện đòi đất” của ông Ngô Quang Kiệt vì ai cũng biết vụ “Tòa khâm sứ” là do chính ông ta phát động. Hóa ra đây là một “phản ứng dây truyền” có chủ đích “tái chiếm” (trong đó có những phần đất di sản của Phật giáo bị chiếm đoạt) rất rõ. Chỉ cần trả lại hết “đất đai” mà nhà nước đã trưng thu của đạo Công giáo (không thôi) trong chính sách quốc hữu hóa tài sản thời cải tạo xã hội chủ nghĩa là sẽ có ngay “công lý và hòa bình”, và sẽ không còn ai vác búa, xà beng, rời tượng Chúa và cắm mốc thánh giá đi cầu nguyện nữa, bằng không thì kiên trì chiếm đất tới cùng.

Vậy ra hành vi “cầu nguyện đòi đất” chính là lợi dụng thời cơ (mở cửa tự do) để phủ định nguyên nhân và kết quả của chính sách nhà nước Việt Nam trong một thời điểm lịch sử nhất định. Cần lưu ý rằng, trong công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, chính sách “người cày có ruộng” được đặt ra xuyên suốt từ thời Pháp thuộc. Sai lầm trong cải cách ruộng đất là có, nhưng khi Hồ Chủ tịch khi ra quyết định sửa sai cũng chỉ là quy định lại thành phần, đảng tịch chứ chưa hề có chuyện trả lại ruộng đất bị trưng thu. Bởi chính sách này cơ bản đem lại lợi ích cho đại đa người nông dân.

Chính vì vậy khi luật đất đai năm 2003 và các nghị định của chính phủ về luật đất đai vẫn thống nhất với luật trước đó ở điểm, không giải quyết khiếu nại những trường hợp về đất đai mà nhà nước đã trưng thu, quản lý (hầu hết đất của thực dân, phong kiến, chủ tư sản, việt gian, quan thầy, cố đạo…) trong thời cải tạo xã hội ở miền Bắc và chính sách đất đai ở miền Nam.

Với thách thức quyết đòi “Tòa Khâm sứ” bằng được cho Vatican, ông Ngô Quang Kiệt vừa tung hô sự “hiệp thông cầu nguyện” (bất chấp những thông điệp của chính quyền) vừa kêu gọi “giải quyết bằng đối thoại” và nói: “Tôi nghĩ rằng bây giờ các đường hướng giải quyết phải rất đột phá, sáng tạo, chứ không thể theo những đường hướng xưa cũ được nữa”. Tuy nhiên ở các vụ “cầu nguyện đòi đất”, không hiểu bên nào sẽ phải giải quyết bằng “đột phá”, “sáng tạo” và “không thể theo đường hướng xưa cũ”?

Rõ ràng nhà nước chỉ có thể giải quyết bằng pháp luật vì không có pháp luật thì nhà nước duy trì làm sao được trật tự xã hội. Còn nhà thờ thì “đột phá” đã có rồi (cầu nguyện, ca hát chán chê rồi đến lượt phá cổng, phá tường rào), “sáng tạo” đã có rồi (kêu gọi cả trẻ em vốn chẳng biết gì về tranh chấp đất đai tham gia, kéo cả người dân tộc đến gõ cồng chiêng, bắc loa phóng thanh kích động…). Nhưng khi kêu gọi “không thể theo đường hướng xưa cũ” thì nhà thờ lại cứ đi vào “đường hướng xưa cũ” của mình (rời tượng Chúa, cắm mốc thánh giá chiếm đất, bên cạnh việc tung tin Đức Mẹ hiển linh, hiện hình, chiếu hào quang…).

Ở thời Pháp thuộc giáo dân cũng luôn tự cho mình cái quyền đứng trên Pháp luật và bây giờ hình ảnh đó càng ngày càng được tái hiện một cách sinh động. Dù muốn hay không cũng xin ông Ngô Quang Kiệt đọc lại một số tư liệu trong thư khố của Bộ Ngoại giao và Bộ Hải quân của Pháp qua luận án tiến sĩ triết học được bảo vệ tại Pháp của Cao Huy Thuần: “Đạo Thiên Chúa và chủ nghĩa thực dân tại Việt Nam” để nghiền ngẫm nhiều hơn đến những bài học lịch sử mà chăn dắt con chiên, đừng vì sự hiếu thắng của chính mình mà tiếp tục khơi lại những vết thương đau của lịch sử dân tộc, đặc biệt của Phật giáo.

“…Trong chuyến công tác, người ta cho họ đi đầu toàn thể dân Công giáo rồi chiếm và đốt một số làng của các kẻ ăn cướp hay của các nho sĩ võ trang (các sĩ quan gọi bất cứ ai chống họ là “kẻ cướp”). Họ giết 10 người, trong đó có một viên chỉ huy; các người bị thương đều bị tra tấn, bị trấn nước hay bị thiêu sống, chùa chiền bị phá hủy. Những người đó tỏ ra rất can đảm, nhưng tôi tự hứa không để bắn một phát nào nữa nếu không có tôi (bất kể những lời người ta khuyên) mục đích là để tôi đích thân chống lại các cảnh dã man đó, mà chỉ tấn công các làng chắc chắn có tội và để tránh cho các con chiên cuồng tín đó khỏi bị trả đũa khủng khiếp trong trường hợp Pháp thua trận hay thay đổi chính sách” (Harmand gửi Testard, 16-1-1874, Thư khố Bộ Pháp quốc Hải ngoại A00 (10) hộp 1).

“… Chúng tôi lần lượt chiếm 4 làng, bắt 5 người chỉ huy, nhưng không phải là những người nổi tiếng, họ sẽ bị xử tử hôm nay, và giết ít nhất 50 người trang bị bằng dáo hay bằng gậy… Viên hạ sĩ và hai người mà tôi phái đến Giám mục Cézon đã trở về ngày hôm kia. Phái bộ truyền giáo đã phái họ đến một ngôi làng người lương ít nhiều theo trộm cướp, họ giết 10 người, họ kể với tôi rằng, người An Nam tra tấn rất tàn nhẫn các người bị thương, phá sập ngôi chùa trong làng, tất cả việc này, Giám mục Tây Ban Nha hết sức hài lòng…” (Harmand gửi Ganier ngày 22-12-1873, do J.Marquet và J.Norel dẫn, “L’occupation francaise au Tonkin”, tr.112).

Không chối cãi được, một số Giám mục Pháp đã hùa với các nỗi ghen ghét, hận thù sục sôi ở nơi họ sống; họ làm hại các con chiên một cách nghiêm trọng khi đẩy những người này vào một cuộc nổi dậy chống lại chính phủ An Nam.
Việc chinh phạt của Pháp chỉ là cái cớ bề ngoài, còn lý do căn bản là sự tranh chấp phe phái. Nên để ý là một số vụ nổi loạn do những kẻ tự xưng là con cháu nhà Lê đều có các viên chỉ huy là Thiên Chúa giáo… Cầm đầu các đám tín đồ Thiên Chúa đi cướp bóc, đốt phá các làng phi Thiên Chúa và triệt hạ chùa chiền thường là các linh mục hay các kẻ truyền đạo: họ bổ nhiệm các viên đội, tụ tập binh lính mà đa số, theo lời thú nhận đều là đầu trộm đuôi cướp
” (Philastre gửi Dupré, 15-1-1874, Thư khố Trung ương Đông Dương, Đô đốc 13506 số 4).

Hình như đôi khi, tôi dám nói như thế này, lòng nhiệt thành tôn giáo đã hủy hoại các tư tưởng công bình, chân lý, nhân đạo, bác ái ở các nhà truyền đạo, và họ dễ dàng để mình bị lôi cuốn vào chính các lỗi lầm mà họ đã thấy rõ ở các đối phương của mình" (Rheinart gửi Garnier, 14-14-1874, Thư khố Trung ương Đông Dương, Đô đốc 13506 số 4).

“… Chúng tôi thấy một số lớn làng bị thiêu rụi. Khổ thay, cứ mỗi lúc, các tín đồ Thiên Chúa giáo thấy kẻ thù của họ biến mất, hoặc họ tự thấy mình mạnh hơn thì họ lại đi hành quân, trả thù không gớm tay, rồi đến phiên họ lại đốt và giết. Hầu hết họ đều có võ trang, và tôi tin rằng, chính các nhà truyền giáo cũng không ngăn cản nổi. Đó là điều đáng tiếc, vì các quan mới từ Huế ra đều nhân cớ đó mà xác nhận rằng, chính các tín đồ Thiên Chúa gây sự, chính những người này là nguyên nhân đầu tiên của mọi đau khổ. Hơn nữa, vì những con chiên có nhiều khí giới, nên họ sẵn sàng xem những con chiên là những kẻ làm loạn” (Báo cáo của Harmand ngày 24-1-1874, Thư khố Trung ương Đông Dương, Đô đốc 11689/54).

Ngay khi thấy mình được ủng hộ, các tín đồ Thiên Chúa giáo đã không ngần ngại đốt nhà, giết người, và cũng như những người này, nếu cần, họ vu cáo để biện minh cho việc tàn bạo của mình. Đó là điều họ đã làm năm vừa rồi, và chính điều này đã gây ra những vụ trả đũa mà người ta gọi một cách saimlầm là các vụ đàn áp. Nếu khi che chở họ, chúng ta nhắm mắt để họ lôi kéo, chúng ta sẽ gây ra một phản ứng dữ dội chống lại những nhà nho một cách không kém dã man, không kém tàn bạo như những vụ đàn áp bây giờ” (Rheinart gửi Dupré, Thư khố Trung ương Đông Dương, Đô đốc 13506 số 4).

Tôi tin rằng Giám mục Gauthier và Giám mục Purinier nhất là ông sau này không chịu nổi ý kiến một giải pháp hòa bình cho vấn đề: giải pháp này sẽ phá tan hy vọng của họ mong muốn thấy một chính phủ riêng biệt, chính phủ này có lẽ sẽ là một chính phủ Công giáo. Các tín đồ Công giáo lại càng phóng đại hơn nữa các ý tưởng đó và xúi giục các linh mục, các người chăn dẫn họ để đưa đến một sự đổ vỡ mới giữa hai chính phủ… Suốt ngày chúng tôi nhận tới tấp các báo cáo và các lời yêu cầu đem quân chinh phạt các tỉnh đó” (Thư Philastre gửi Dupré, 15-1-1874).

Suốt ngày tôi tiếp những người tự xin điều khiển các binh lính mà họ tụ tập thành từng toán 100, 150 người, tất cả đều được các cha xứ gửi gắm, nhưng tôi cố phản ứng không mích lòng một ai để chống lại những khuynh hướng tràn ngập của các tín đồ Thiên Chúa” (Thư Harmand gửi Garnier 16-12-1873).

Tôi vẫn cứ tiếp khách mãi: Họ nối đuôi nhau trước túp lều tôi từ 7 giờ sáng cho đến tối, tôi phải tiếp mãi những người đến khiếu nại hay xin xỏ: kẻ thì xin được giúp đỡ che chở, kẻ thì tụ tập được một số người rồi đến xin khí giới để trang bị và cấp bằng chỉ huy, sau rốt có kẻ, và đây là số đông đến xin giúp việc thư ký, công chức đủ hạng, và còn xin được bổ làm tri phủ, tri huyện. Tất cả hình như hầu hết là tín đồ Thiên Chúa và một phần ở tỉnh Ninh Bình kế cận, do các linh mục cử sang. Trong những trường hợp gay cấn này, tín đồ Thiên Chúa đã biểu lộ một sự tham lam trơ trẽn, vừa thiếu dè dặt vừa đầy ích kỷ… Họ tỏ ra rất thô thiển. Họ xem việc chúng ta đến đây như là đánh dấu cho giờ phục thù và trả đũa; về phần những nhà truyền giáo, ngay từ đầu có lẽ họ đã đưa ra những lệnh nghiêm ngặt; nhưng chắc chắn sau đó họ bị tràn ngập. Mỗi ngày tôi nhắc đến chục lần: “Thế ra các ông cho rằng chúng tôi đến đây để gây một cuộc chiến tranh tôn giáo hay sao? Chúng tôi đến đây với mục đích thuần túy thương mại. Dù các ông có là giáo là lương, là Trung Quốc cũng không phải là điều quan trọng… Tôi nói thêm, không phải mọi người Pháp đều theo đạo Thiên Chúa đâu, điều này khiến họ hết sức ngạc nhiên” (Thư Harmand gửi Testard du Cosquer, 16-1-1874).

Khi triều đình Huế bị các khiếu nại của các Giám mục đè ép, muốn bắt các “làng không đạo phạm tội” bồi thường, đòi quyền hưởng thụ và sở hữu các đất đai vắng chủ, gây nên sự thù ghét của những người phi Công giáo, Rheinart viết:

Điều 9 luôn luôn đem lại cho chúng ta các khó khăn, vì rằng các con chiên đã làm bậy khi lập nên một chính đảng chính trị muốn ở ngoài pháp luật của xứ này và tự cho là độc lập. Không có nước nào vô tư cho bằng nước An Nam về vấn đề tôn giáo, và nếu các phái bộ chỉ lo giảng đạo, họ không có gì phải lo cả” (Rheinart gửi thống sứ Le Myro de Vilers, 19-8-1879, Thư khố Trung ương Đông Dương, Đô đốc 10443/8).

Giới tăng lữ Thiên Chúa An Nam thích thú ỷ dựa vào việc chúng ta ủng hộ để gây sức ép lên dân lương. Họ đã bám vào sự che chở của chúng ta bằng cách đổi đạo, dù thành thật hay không; sự kiêu hãnh công thêm vào lòng hăng hái tôn giáo thúc đẩy họ đi cù rũ người theo đạo khắp nơi… chúng ta bảo đảm tự do tôn giáo, nhưng tuyệt đối chúng ta không ham mê gì các vụ đổi đạo mau lẹ và đông đảo cả” (Thư Rheinart gửi Dupré, 28-10-1876, số 248).
Suy nghĩ về việc Pháp có thể bất ngờ bị thất bại ở Bắc Kỳ, Le Myre de Vilers đã tự phê bình:
"Đáng lẽ phải là những đồng minh tự nhiên của Thiên quốc, khốn thay chúng ta lại tự xưng là những tay quán quân của đạo Thiên Chúa cùng việc tuyên truyền tôn giáo, là việc mà trong nước này chỉ là tuyên truềyn làm loạn, và đã xảy ra điều bất thường là, dù dưới hình thức chính phủ nào, nước Pháp dân chủ lại đi dạy các thuyết duy thần cho một dân tộc đã đưa nền dân chủ đến chỗ xã thôn tự trị... Vì thế chúng ta không những trở thành kẻ thù của Thiên quốc mà còn của một dân tộc chân thật vốn xem chúng ta là những bạn đồng minh..." (Thư Le Myre de Vilers gửi Bộ trưởng Hải quân, 19-1-1882, Thư khố Bộ Pháp quốc Hải ngoại A30 (54) hộp 16).
Giám mục Puginier, người gây ảnh hưởng rất lớn trên chính sách của chúng ta tại Bắc Kỳ từ mấy năm nay và lúc nào cũng thúc dục việc tiêu diệt Văn Thân cũng đã thừa nhận với tôi cách đây mấy hôm rằng “Đảng Văn Thân” – đó là cách ông ta gọi những thành phần có học trong dân chúng” (Văn thư về tình hình chính trị và kinh tế ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ, 13-7-1887, Thư khố Bộ Pháp quốc hải ngoại, A00 (22) hộp 2) .

Tại Trung Kỳ, Văn Thân đông đảo hơn Bắc Kỳ nhiều, họ tức giận vì vô số sự xúc phạm mà quân đội Pháp gây ra cho những quan lại cao cấp nhất, vì tiền phạt mà các Phật tử phải tra cho tín đồ Thiên Chúa giáo, và vì thái độ của tín đồ Thiên Chúa giáo hầu như khắp nơi không chịu nộp thuế, không chịu làm xâu, tóm lại không chịu tuân lệnh các quan. Về việc này Lanes đã đưa ra ví dụ tiêu biểu:

Viên Tổng đốc và các viên Tri phủ trong một tỉnh Trung Kỳ đã kể với tôi rằng các tín đồ Thiên Chúa giáo không tuân lệnh nộp thuế và làm xâu…. Tôi hỏi tại sao không dùng sức mạnh buộc họ phải theo như đã làm đối với người Phật tử, viên Tri phủ tại một phủ có nhiều người Thiên Chúa giáo sinh sống trả lời: “Chúng tôi thường cố gắng làm như thế, những nhân viên của chúng tôi bao giờ cũng được trả lời bằng những phát đạn” Hầu như khắp nơi ở Bắc cũng như Trung Kỳ, các tín đồ Thiên Chúa giáo hoặc đã ít nhiều tranh né các bổn phận mà những người Việt Nam khác phải làm, và trong việc kháng cự này, họ được các giáo sĩ khuyến khích. Kết quả tự nhiên là một mối hiềm thù sâu xa giữa hai hạng dân và là nguyên nhân của các hỗn loạn ở địa phương, nhất là tại các tỉnh Bắc, Trung Kỳ” (Văn thư về tình hình chính trị và kinh tế ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ, 13-7-1887, Thư khố Bộ Pháp quốc hải ngoại, A00 (22) hộp 2).

Những hành vi “cầu nguyện đòi đất” mà những người chủ chăn sách động giáo dân có phải là “đối thoại” không, hay họ đang tiếp tục thực thi những “luật” riêng rất có “truyền thống” của họ để tạo nên sự hỗn loạn tại thủ đô Hà Nội? Hành động của ông ngô Quang Kiệt cũng như sự viếng thăm cổ động sự “cầu nguyện” của một số giám mục Hải Phòng, Thái Bình càng chứng tỏ những vị chủ chăn này rất có “ý thức” trong hành vi chiếm đất.

Muốn “đối thoại” phải tương đồng về chủ thể, phải tuân thủ các quy định của pháp luật, trong đó các tổ chức, cá nhân phải có nghĩa vụ với các chính sách và pháp luật của nhà nước. Nếu bỏ qua các tổ chức, cá nhân để giải quyết “công lý và hòa bình” riêng cho người Công giáo là điều không thể, bởi nó sẽ ảnh hưởng đến chính sách chung về đất đai. Những bất ổn phát xuất từ một tiền lệ phá luật (dù luật nhà nước vẫn cần được điều chỉnh để hoàn thiện hơn) như vậy sẽ tạo nên những phản ứng xã hội bất thường. Tại sao ngay thời điểm luật ban hành, người Công giáo thấy không hợp lý lại không đấu tranh để thay đổi hiến pháp, pháp luật. 50 năm sau phản ứng lại bằng “cầu nguyện” như vậy chẳng phải là muộn quá hay sao?

Căn bản đất đai của người Công giáo bị trưng thu không chỉ nằm trong một chính sách chung ở tầm vĩ mô mà còn là “nhân quả” của chính người Công giáo trong thời Pháp thuộc. Tuy nhiên, không riêng gì những cơ sở của Công giáo mà có không ít cơ sở của các tổ chức tôn giáo khác cũng nằm trong chính sách ấy. Vậy ai sẽ là người “cầu nguyện đòi đất” thay cho họ.

Nếu muốn “cầu nguyện” thì Công giáo nên cầu nguyện “sửa đổi pháp luật” đặc biệt là luật đất đai, hay sửa đổi hiến pháp: “đất đai không phải là sở hữu toàn dân”. Chứ “công lý và hòa bình” không phải là chủ đề trong đối thoại trước cuộc phát động cầu nguyện tại mảnh đất “Tòa khâm sứ”, mảnh đất mà vốn dĩ chẳng có một thứ công lý hòa bình nào trước đó được nhà thờ thực thi, vì nó do cưỡng chiếm mà có. Lẽ nào lại có một thứ “công lý và hòa bình” chéo cẳng ngỗng như vậy.

Mặt khác, là người chủ chăn của cả một giáo phận, ít nhiều ông Ngô Quang Kiệt phải hiểu những chính sách quản lý đất đai ở tầm vĩ mô nói lên bản chất quyền lực xã hội của một chế độ. Nhà nước nắm vai trò quản lý và điều tiết tất cả các cấu trúc vận hành của xã hội để đảm bảo trật tự, trong đó pháp luật phải được tôn trọng vì dù chưa hoàn thiện thì nó cũng là hình ảnh của một nhà nước pháp quyền. Chúng ta cứ thử hình dung trong thời Pháp thuộc, đất đai phần lớn thuộc sở hữu của thực dân, của các cha đạo và quan thầy, làng nào theo đạo thì được ưu tiên, làng nào không theo đạo thì bị bách hại. Vậy lúc hưởng lợi từ những “quyền lực thực dân” ấy, không biết có nhà thờ nào kêu gào “công lý và hòa bình” không? Hay lúc đó không ít giáo sĩ đã chuẩn bị lực lượng võ trang để đàn áp lương dân, thủ tiêu các phong trào khởi nghĩa, cách mạng khi họ không chịu khuất phục mình để bán rẻ dân tộc?

Kiểu “cầu nguyện” bất chấp pháp luật như vậy làm sao có thể gọi là “đối thoại” được. Hơn nữa khi chưa “đối thoại” xong thì ai đó cũng đã tơi bời bởi những ngôn ngữ miệt thị pháp luật nhà nước rồi. Tại sao đối thoại “chậm” vì vốn dĩ nó không có một cơ sở pháp luật nào để giải quyết trước yêu sách đó, muốn nó nhanh thì chỉ còn cách tự “sửa pháp luật” bằng “luật rừng”, ào vào chiếm đất và đuổi người khác đi thôi.
Nước ngoài rất hay can thiệp vào “tôn giáo” mà, có nó chống lưng thì lo gì đến việc vi phạm pháp luật? Với thái độ chiếm đất đi trước cả pháp luật và đối thoại, chúng ta buộc phải nhớ đến chùa Lá Vàng (“thánh địa” La Vang hiện nay) bị chiếm và hợp thức hóa đến mức ngây ngô như thế nào. Có vị linh mục cao hứng quá đã viết cả vè về lịch sử La Vang, miêu tả rất nhiều thái độ “hành hung” trong đó có một câu điển hình: “Bà (chỉ Đức Mẹ) vào, Bà đánh tứ tung. Bao nhiêu thần Phật, bay tung ra ngoài”. Đó là “phép lạ”. Và quả thật chẳng có “phép lạ” nào bằng, cứ bay vào chỗ mình cần mà đánh tứ tung, đánh quá thì người ta sợ cũng phải bay tung ra ngoài thôi. Đối thoại làm gì cho mệt. Dùng mấy nghìn người (chủ quan) để đối thoại rồi tung hô ra thế giới về nhân quyền, tự do tôn giáo thì sẽ nhanh chóng có đất thôi. Đối thoại làm gì khi bắt đầu người ta lại chẳng tôn trọng những nguyên tắc đối thoại bằng cả lương tâm lịch sử và pháp luật.

Thiết nghĩ trong vụ việc này “đột phá và sáng tạo” nhất để thay đổi hình ảnh của ông Ngô Quang Kiệt chính là việc ông ta nên đề nghị phía Giáo hội Công giáo Việt Nam trả lại những phần đất di sản Phật giáo bị chiếm phá trong thời Pháp thuộc và chính thức ra lời xin lỗi với dân tộc và Phật giáo. Bởi lịch sử không phải là “sự đã rồi”. Người Phật tử không bao giờ quên những dĩ sản của mình vì di sản là biểu tượng của chủ quyền dân tộc. Nó nhắc nhở người Phật tử rằng mất di sản là mất chủ quyền dân tộc. Bởi bất cứ khi nào giặc ngoại xâm hiện diện trên mảnh đất này là chùa chiền, đình miếu, di sản, văn vật bị tiêu hủy, đốt phá.

Giáo hội Phật giáo đã từng lên tiếng phản ứng về mảnh đất “Tòa Khâm sứ” cũ, vì mảnh đất ấy chứng kiến một âm mưu cướp phá của Giám mục Puginier và Nguyễn Hữu Độ đối với một di sản thiêng liêng vào bậc nhất của Phật giáo: chùa Báo Thiên.
Nay họ núp dưới chiêu bài “cầu nguyện” chính là muốn tái chiếm những phần đất di sản mà Phật giáo đã từng bị cướp phá. Hành động đó chẳng phải đang ngang nhiên thách thức pháp luật, muốn tái lập cái hình ảnh thời ngoại thuộc hay sao?

Trần Điều
(Xem thêm: "Khi giáo xứ dùng "luật rừng": http://tintuc.timnhanh.com/xa_hoi/20080822/35A81250/)

Thứ Ba, 2 tháng 9, 2008

CẦU NGUYỆN ĐÒI ĐẤT: "ÔNG TIỀN CHỦ, BÀ TIỀN CHỦ" Ở ĐÂU?


Tương tự như vụ cầu nguyện đòi đất “Tòa khâm sứ” do TGM Ngô Quang Kiệt phát động, vụ cầu nguyện đòi đất tại giáo xứ Thái Hà cũng đã lên đến đỉnh điểm bằng các hành vi đập phá tài sản và gây mất trật tự công cộng. Điều đáng nói những hành vi coi thường luật pháp lại tiếp tục được núp dưới danh nghĩa “cầu nguyện đòi đất” vì “công lý và hòa bình”. Sự việc ngày càng tỏ ra thách thức bất chấp pháp luật, nên cần nhìn nhận và xâu chuỗi những hành vi “cầu nguyện” này là có chủ đích “mất trật tự”, vượt khỏi hình thức “đòi đất” thông thường. Khởi đầu từ Giáng sinh 2007, vụ cầu nguyện đòi đất “Tòa Khâm sứ” (một phần đất cùng với nhà thờ Lớn được xây trên di sản Chùa Báo Thiên) đã lây lan qua các vụ “cầu nguyện đòi đất” khác, với ý đồ “hiệp thông”, nhằm gây sức ép lên hệ thống pháp luật, làm cho những diễn biến chính trị xã hội, tôn giáo tại Việt Nam trở nên phức tạp.

Có thể nói, trước vấn đề đất đai, những năm gần đây xảy ra liên tiếp những vụ khiếu kiện, cụ thể là chính sách đền bù, giải tỏa để quy hoạch đô thị, xây dựng các khu công nghiệp, hoặc do chưa thỏa đáng trong đền bù, hoặc do những sai phạm về quản lý đất đai tại một số địa phương đã dẫn đến những thiệt hại vật chất nhất định cho người nông dân. Đã có lúc, người dân từ một số vùng nông thôn kéo lên các thành phố lớn để khiếu kiện về đất đai, trở thành một điểm nóng chính trị xã hội đáng lưu tâm.

Tuy nhiên, những vụ “cầu nguyện đòi đất” của một số người Công giáo dòng Chúa Cứu thế thì không tương đồng về bản chất và mức độ. Bởi những phần đất mà họ đòi cơ bản đã nằm ngoài khuôn khổ của pháp luật hiện hành. Nói cách khác, họ muốn tách riêng ra khỏi hệ thống pháp luật Việt Nam để xây dựng một “chủ nghĩa xét lại” về đất đai và hợp lý hóa ngay cả những phần đất mà họ đã từng cưỡng chiếm như chùa Báo Thiên (nay là nhà thờ Lớn), chùa Lá Vằng (nay là nhà thờ La Vang), chùa Hội Tôn (nay là nhà thờ Mằng Lăng)… Cầu nguyện đòi đất, rước ảnh tượng Chúa, thánh giá vào cắm mốc là một hình thức tái chiếm những phần đất đã bị nhà nước trưng thu, hoặc những phần đất mà họ phải bàn giao cho nhà nước quản lý trong chính sách cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và chính sách đất đai ở miền Nam.

Họ đang muốn lật lại và lập lại những hình ảnh không tốt đẹp của thời ngoại thuộc, khi phủ nhận và tự cho phép mình nằm ngoài những chính sách đất đai kể trên (một điều mà khi luật này được thi hành tại thời điểm lịch sử đó, họ không có cách gì thay đổi được), nên cố tình làm ngơ hoặc không để ý đến những văn bản pháp luật đã được sửa đổi và thông qua trong những năm gần đây của nhà nước. Căn cứ vào Luật Đất đai năm 2003 và Nghị định 181 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai, căn cứ vào Nghị quyết số 23 ngày 26-11-2003 của Quốc hội về nhà đất do Nhà nước quản lý và chính sách cải tạo nhà XHCN trước ngày 1-7-1991 “Nhà nước không thừa nhận việc đòi lại nhà đất mà Nhà nước đã quản lý, bố trí sử dụng trong quá trình thực hiện các chính sách về quản lý nhà đất và chính sách cải tạo XHCN liên quan đến nhà đất”.

Sau khi báo SGGP ngày 20-8-2008 đăng bài “Không chấp nhận hành động vi phạm pháp luật, kích động giáo dân", Linh mục Cao Đình Trị (tự giới thiệu là Phó Giám tỉnh Dòng Chúa cứu thế VN – 38 Kỳ Đồng quận 3 TPHCM, đại diện cho 279 linh mục, tu sĩ Dòng Chúa cứu thế tại VN và toàn thể giáo dân Thái Hà, Tổng giáo phận Hà Nội, Giáo hội Công giáo VN) gửi đơn khiếu nại tới Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông, Tổng Biên tập Báo SGGP và lãnh đạo một số báo đài. Trong đơn khiếu nại, linh mục Trị cho rằng “khu đất (178 Nguyễn Lương Bằng, Q.Đống Đa, Hà Nội - PV) mà Giáo xứ Thái Hà và Tu viện Dòng Chúa cứu thế Hà Nội là chủ sở hữu hợp pháp từ năm 1928, bị chiếm đoạt không có bất cứ một văn bản hoặc chủ trương nào phù hợp với hiến pháp và pháp luật Việt Nam”.

Thế nhưng liên quan đến những phần đất di sản của Phật giáo bị nhà thờ chiếm phá như đất của nhà thờ La Vang và gần đây là vụ “Tòa Khâm sứ” (đất chùa Báo Thiên cũ) thì không ai lên tiếng vì “công lý và hòa bình” cho chủ sở hữu hợp pháp của Tăng Ni, Phật tử Việt Nam, thế nhưng khi tranh chấp một mảnh đất với nhà nước, họ lại lập luận: “Tất cả giáo dân, linh mục nhà thờ là một thể thống nhất về quyền lợi và nghĩa vụ”. Điều đáng nói cái gọi là “chủ sở hữu hợp pháp” của họ là do chính quyền thực dân bảo hộ cấp. Rõ ràng trong thái độ lật lọng của họ, chỉ có giấy tờ do chính quyền bảo hộ thực dân cấp mới có cơ sở pháp lý để giải quyết còn lại đều bị họ không thừa nhận.
Thực dân Pháp đánh chiếm Việt Nam, dù dưới bất cứ danh nghĩa gì thì vĩnh viễn “chính quyền” ấy không thể là sở hữu chủ hay đại diện sở hữu chủ trên mảnh đất mà đã có biết bao thế hệ đồng bào, trong đó có nhiều dân tộc, nhiều tín ngưỡng khác nhau đã không quản hy sinh xương máu, tài sản cống hiến cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước.

Trong chính sách cải tạo ruộng đất của nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, hấu hết đất đai được lấy lại từ tay thực dân, phong kiến, và các cơ sở tôn giáo, không ít chùa chiền, đình miếu cũng bị trưng thu. Nếu cứ đem quá khứ của nhiều mảnh đất mà hiện nay nhà thờ có được (do cấu kết với thực dân, do mua bán trao đổi và cả cưỡng chiếm, cướp phá chùa chiền, đình miếu mà có) ra bằng đúng lương tâm con người thì không thể cân lường bằng vài thứ “công lý” ngoại thuộc ấy được. Bởi công lý chính là lương tâm. Không thể có chuyện cướp đất nơi này, đòi đất nơi kia mà vẫn có thể ngang nhiên sử dụng những cụm từ “công lý và hòa bình” được. Lương tâm người bình thường còn không cho phép lẽ nào là lương tâm tôn giáo.

Lịch sử còn biết bao trang ghi rõ những ngôi chùa đã bị cưỡng chiếm, cướp phá để rồi hiện diện trên đó là những nhà thờ đồ sộ. Ai sẽ là người thay họ đi đòi? Chùa chiền là di sản văn hóa của toàn dân tộc, lẽ nào những sự tàn phá di sản trong quá khứ không gợi lên một bài học lương tâm hay lòng trắc ẩn của những con người đang “cố sống cố chết” cầu nguyện “đòi đất” bằng mọi cách bất chấp pháp luật hiện hành? Và nếu cứ xét lịch sử (sở hữu chủ) đất đai thì không ít nhà thờ vốn được xây trên đất chùa. Vậy Tăng Ni, Phật tử Việt Nam hiện nay có quyền căn cứ vào những bằng chứng lịch sử để lên tiếng với nhà thờ đòi trả lại đất hay không?

Tổng Giám mục Ngô Quang Kiệt từng phát động đòi đất “Tòa khâm sứ” và hiệp thông với những linh mục nhà thờ Thái Hà. Ngòi nổ của những vụ cầu nguyện đòi đất khác đều xuất phát từ động thái thách thức của TGM Ngô Quang Kiệt. Nếu TGM Ngô Quang Kiệt (con đẻ của Vatican) không chống lưng cho những vụ cầu nguyện quá khích thì có giáo dân nào dám tỏ ra thách thức đến mức vác kìm búa, xà beng đi cầu nguyện. Chính ông ta chưa từ bỏ tham vọng “Tòa khâm sứ” khi kêu gọi một số linh mục nước ngoài “hiệp thông”: “nhất định đòi Tòa Khâm sứ cho bằng được” như tin BBC đã đưa. Và chính ông ta đưa ra lời phát biểu “nếu ai cầu nguyện mà phải đi tù, tôi sẽ đi tù thay”. Người đứng đầu giáo phận Hà Nội đã “hiếu chiến” với đòi đất như vậy thì không lấy làm lạ khi giáo dân Thái Hà ngày càng quá khích trong hành vi cầu nguyện.

Vụ “Tòa khâm sứ” và vụ giáo xứ Thái Hà thực chất chỉ là một chủ ý nhất quán trong chiến dịch “đòi đất” để thử gân nhà nước Việt Nam của Vatican, bởi đó là điều họ đã từng tuyên bố trong những chuyến viếng thăm Việt Nam: cầu nguyện đòi đất chỉ là những việc làm “chìm nổi”, “ẩn hiện”, đằng sau chính là việc thúc Việt Nam nhanh chóng bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Vatican, công nhận những đóng góp của đạo Công giáo (Vatican) với dân tộc Việt Nam. Như vậy, việc “cầu nguyện đòi đất” chẳng khác gì “thí tốt” để “bắt xe” chạy theo đúng dự tính của họ.

Thực tế, ngay sau bức thư của Quốc vụ khanh Vatican yêu cầu các linh mục và giáo dân ngưng ngay các hành động cầu nguyện quá khích, việc “cầu nguyện đòi đất” đã trở nên “vụng về” trong con mắt của những người chủ chăn, trở nên phản cảm trong con mắt quần chúng nhân dân. Tuy nhiên, mỹ từ “công lý và hòa bình” lại là vầng hào quang trong con mắt của những giáo dân bị lợi dụng làm công cụ hay bình phong cho mưu đồ thâm hiểm gây bất ổn chính trị xã hội của họ. Những giáo dân quá khích không có đầy đủ nhận thức để hiểu những âm mưu chính trị gây mất trật tự an ninh xã hội hay “thủ thuật diễn trò” của Vatican qua một số nhân vật mà họ “đặt cược”. Nhưng chính hành vi nôn nóng gây sức ép bằng mọi cách đó buộc họ phải đi một nước cờ “được ăn cả ngã về không”, và vô hình chung họ đã tự tố cáo hay tự nhận mình ở cái thế bên lề, luôn chống lại lợi ích dân tộc. Chẳng lẽ “trống rong cờ mở” cầu nguyện rùm beng để cho “ngoại quốc” (với tiêu chí, thước đo “Tây”) biết đến lại “xôi hỏng bỏng không”, nên buộc phải đẩy một vụ “cầu nguyện” lên làm mức rối loạn điển hình (cố đấm ăn xôi) để cố giành thắng cho bằng được, bất chấp việc phỉ báng vào pháp luật về đất đai của chế độ hiện hành. Phỉ báng pháp luật hiện hành, để người ta nghĩ rằng chế độ cộng sản chỉ đầy ra đó những hình ảnh tham nhũng, cướp chiếm đất đai…, cứ như nếu chế độ nằm trong tay họ thì Việt Nam sẽ có ngay công lý và hòa bình tuyệt đối.

Cứ thử nhìn lại những điều mà họ từng làm, đã không ít lần họ quay lưng lại với lợi ích dân tộc, đàn áp, chống đối các tư tưởng, tôn giáo khác thì thấy rõ ngay làm gì có thứ “công lý và hòa bình” nào được họ kêu gọi cho biết bao nỗi thống khổ mà dân tộc Việt Nam đã phải trải qua trong thời Pháp thuộc. Bởi nếu chế độ nằm trong tay họ thì họ lại sẵn sàng chà đạp vào những mỹ từ đó bất chấp luật pháp, chiếm phá di sản, đất đai để nhanh chóng cải đạo toàn cõi, biến ngay Việt Nam thành một nước thuần Chúa, thậm chí dâng cả Việt Nam cho Chúa (Vatican) của họ.

Tại sao họ có thể nuôi ý đồ “cầu nguyện đòi đất” một cách lâu dài như vậy, bất chấp pháp luật? Còn nhớ trong cuộc chiến không khoan nhượng với chủ nghĩa thực dân, đế quốc, Hồ Chủ tịch từng cảnh báo: “Ta càng nhân nhượng, chúng càng lần tới. Thực chất chúng muốn cướp nước ta một lần nữa”. Nhà nước Việt Nam có hiến pháp và pháp luật (thời đại nào cũng thế, chế độ nào cũng vậy), pháp luật không thể bị miệt thị. Việc lôi kéo cầu nguyện đã kéo dài gần 1 năm, khoảng thời gian đủ dài để cho họ nhận thức lại, nhưng họ vẫn không điều chỉnh hành vi gây rối loạn, để các thế lực thù địch lợi dụng xuyên tạc về chính sách tôn giáo tại Việt Nam.

Chính quyền nên nhất quán thực thi pháp luật, không nên nói tránh như: Nếu nhà thờ có nhu cầu về đất đai thì cứ đệ đơn làm thủ tục theo trình tự để xin nhà nước cấp đất. Nhưng “nhu cầu” biết nói thế nào cho đủ, bởi người biết đủ thì ở vài chục mét vuông cũng mãn nguyện, người không biết đủ thì dù có ở Thiên đường cũng không vừa ý. Còn nữa, đất đai thuộc sở hữu toàn dân thì tại sao nhà thờ có “nhu cầu” đất đai thì xem xét, vậy dân bình thường hay các tổ chức khác có “nhu cầu” thì có xem xét cho không? Thiết nghĩ chúng ta không nên vòng vo bởi những cụm từ vô thưởng, vô phạt đó mà nên nghiêm túc, nghiêm minh hơn với công cụ pháp luật. Cái gì trái pháp luật thì phải nghiêm khắc kết án, giải quyết dứt điểm công khai trước toàn xã hội.

Sau khi phái bộ của Vatican sang Việt Nam, những phần đất rộng lớn mà nhà nước trưng thu “của nhà thờ La Vang” (vốn là đất mà họ chiếm của chùa Lá Vằng) được “xem xét”, “trả lại”, chính quyền tưởng rằng nhờ thế có thể xoa dịu được những cơn bốc đồng cầu nguyện đòi đất khác, nhưng chính vì cái “nhu cầu” không có điểm dừng nên khiến họ càng nuôi dưỡng cái ý chí thời “ngoại thuộc”, muốn tái chiếm lại hết những phần đất đai mà họ nghĩ là “của riêng họ”, chứ không phải thuộc “sở hữu toàn dân”, hay của ông cha đổ máu xương gầy dựng. Lịch sử phần nào đã minh chứng, bất cứ mảnh đất nào nhà thờ “cần” thì cho dù nó là di sản nổi tiếng của Phật giáo cũng phải dẹp bỏ, huống gì là mấy cái gọi là nhà văn hóa quận hay công ty may gì gì đó. Mảnh đất Việt Nam chẳng phải đã hơn một lần bị dâng cho Chúa rồi hay sao? Vậy thì bây giờ cứ theo “luật lệ” cũ của họ, chỗ đất nào giáo dân thích là có thể tụ tập cầu nguyện, rước tượng Chúa vào và cắm thánh giá là có thể xong mọi chuyện, là có thể có “công lý và hòa bình”. Chẳng phải họ đã từng đem “Bà” vào “đánh tứ tung, bao nhiêu thần Phật bay tung ra ngoài” để có được “Vương cung Thánh đường” La Vang như hiện nay đó sao?

“Tấc đất tấc vàng”, các cụ nói chẳng sai chút nào. Tác động của sự quy đổi (hay so sánh) “đất” ra “vàng” luôn làm cho người ta mất “bình tĩnh”, nhất là khi “cục vàng” ấy vì lý do nào đó bị mất đi, không còn là của mình, không còn là của gia đình mình, dân tộc mình, tổ quốc mình. Nói rộng ra đế thấy rằng không chỉ người dân bị mất “vàng” không đâu mà dân tộc cũng có lúc bị mất “vàng” như thường. Lịch sử gần nhất, hơn 100 năm Pháp thuộc, dân tộc ta đã mất đi biết bao tài nguyên, di sản, đất đai, phong tục.

Nhưng của “ăn” thì hết, của “để” thì còn. Đất đai là gia tài, là di sản, là mồ hôi, xương máu của biết bao đời người gây dựng. Và sự trân quý đất đai đến mức thiêng liêng khi nó được khắc trên bản đồ nhân loại về sự hiện diện của một dân tộc Việt Nam nhỏ nhoi trước bao cơn sóng dập, gió dồi. Đất không phải là nơi để chúng ta xà xẻo, tranh đoạt vì “đất” còn là nơi nuôi dưỡng tâm hồn, nuôi dưỡng những ứng xử mang tính “người”.

Trong văn hóa ứng xử của người Việt còn lưu lại một hình ảnh rất đẹp: trong những dịp cúng giỗ tiên tổ ông bà, người chủ nhà hiện tại không bao giờ quên mời “ông tiền chủ, bà tiền chủ” (những người quá vãng nhiều đời của khu đất mình đang sở hữu) về hiến hưởng cơm canh, nhận tiền vàng quần áo làm quà biếu để phù hộ độ trì cho gia chủ. Đất là vàng, đất cũng là người, nhưng “cầm nhân thì nhân ở mà cầm vàng thì vàng rơi”. Trong đạo lý của người Việt, chuyện “nhân” mới là chuyện trăm năm vậy. Và cũng chính từ “đất” mà dân tộc chúng ta có một bài học đạo lý sâu sắc “uống nước nhớ nguồn”, đừng bao giờ quên mảnh đất (một đêm nằm bằng một năm ở) ấy được bao đời người xưa dùng máu xương khai khẩn, gầy dựng như thế nào. Người Việt không thể thay đổi được hình ảnh của mình nếu không thể tự lực tự cường vươn lên bằng đôi bàn tay và trí óc sáng tạo của mình. Bất cứ sự vọng ngoại, ỷ lại hay lệ thuộc đều phải trả giá đắt. Và cái giá đắt nhất chính là vong bản ngay khi sống trên quê hương của chính mình, không thể yêu thương được đồng bào mình, thủy chung với dân tộc mình.
Thường Trung
(Xem thêm "Bóc trần âm mưu thâm độc: http://www.hanoimoi.com.vn/vn/41/179065/)